Bài viết

Bản hùng ca trên quê hương hoa sở – và “cột mốc lòng người” đi cùng thời gian

“Khi mùa sở ra cây/ Lúa lượn bậc thang mây/ Mùi tỏa ngát hương bay…” Nương theo câu hát Chiều biên giới, tôi trở lại Bình Liêu (Quảng Ninh) – dải đất biên cương từng đứng ở tuyến đầu trong cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc ngày 17/2/1979. Bốn mươi năm trôi qua (tính theo mốc bài viết 2019), đường biên vẫn ở đó. Nhưng điều khiến người ta lặng đi, lại là một thứ khó nhìn thấy bằng mắt: biên cương được giữ không chỉ bằng cột mốc – mà còn bằng lòng người.

Phú Thọ12/01/2026Đoàn xã Tân Lạc (Đoàn xã Tân Lạc)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Bản hùng ca trên quê hương hoa sở – và “cột mốc lòng người” đi cùng thời gian

“Khi mùa sở ra cây/ Lúa lượn bậc thang mây/ Mùi tỏa ngát hương bay…” Nương theo câu hát Chiều biên giới, tôi trở lại Bình Liêu (Quảng Ninh) – dải đất biên cương từng đứng ở tuyến đầu trong cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc ngày 17/2/1979. Bốn mươi năm trôi qua (tính theo mốc bài viết 2019), đường biên vẫn ở đó. Nhưng điều khiến người ta lặng đi, lại là một thứ khó nhìn thấy bằng mắt: biên cương được giữ không chỉ bằng cột mốc – mà còn bằng lòng người.

Cột mốc lòng người Chạy xe dọc tuyến biên giới Việt – Trung của Quảng Ninh, gặp lại những nhân chứng từ người dân bình thường tới cán bộ từng trải, tôi nhận ra: nhắc về chiến tranh, họ không hô hào căm giận. Họ kể bằng giọng bình thản như kể chuyện nhà, để con cháu nhớ đúng quá khứ, và để ai cũng hiểu rằng: hòa bình bền vững mới là điều miền biên viễn cần nhất.

Nơi “tiếng gà gáy sáng cất lên, hai nước cùng nghe thấy”, những con người từng phải cầm súng giữ từng tấc đất cũng là những người hiểu sâu nhất giá trị của hòa hiếu. Núi liền núi, sông liền sông – muốn sống yên, phải bền lòng, bền trí, bền nghĩa.

Những người lính già đợi trong nắng chiều Chiều vùng biên xuống nhanh. Tôi đến muộn, nhưng hai người lính già ngoài 80 tuổi vẫn vui vẻ đợi:

Ông Hoàng Thế Xương, nguyên Phó Chủ tịch UBND huyện Bình Liêu

Ông Trần Vĩnh Phan, nguyên Đồn trưởng Đồn Biên phòng Hoành Mô gần 20 năm (1959–1979)

Họ kể chuyện cũ không phải để khoét sâu nỗi đau, mà để giữ mạch nhớ: những ngày trồng tre làm mốc, cắm chông, tuần tra đêm, cảnh giác với thủ đoạn nắn dòng sông suối để xói vào đất Việt, chuyện kích động người Hoa về nước, chuyện lấn chiếm âm thầm mà dai dẳng… Bình Liêu khi ấy luôn trong trạng thái “đứng thẳng”, không cho phép lơ là.

Giữ từng tấc đất – trước khi tiếng súng nổ Theo lời Thiếu tá Trần Vĩnh Phan, trước 1979 phía bên kia đã nhiều lần xâm canh xâm cư, di chuyển, đập phá cột mốc, xây kè nắn dòng để tạo xói lở phía Việt Nam và bồi lắng sang phía họ. Có thời điểm còn cho lính cải trang dân binh, phục kích bắt chiến sĩ ta đang làm nhiệm vụ. Đồn trưởng Hoành Mô phải sang tận phía bên kia đấu tranh họ mới trả người và vũ khí.

Ông Phan nhắc chuyện khu vực mốc 63: phía bên kia làm đường lấn sâu vào đất Bình Liêu hơn 4.000m², biên phòng ta phát hiện và kiên quyết đấu tranh đòi lại.

Còn ông Hoàng Thế Xương nhớ rõ không khí “nóng dần” khi dựng lên câu chuyện “nạn kiều”, kêu gọi khoảng 1.500 người Hoa ở Bình Liêu về nước, trong khi lực lượng quân sự cấp trung đoàn áp sát biên giới, chuẩn bị cho một điều xấu nhất.

Tháng 11/1978, Trung tướng Trần Quyết – Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ đội Biên phòng – xuống kiểm tra, đánh giá công tác hiệp đồng bảo vệ biên giới của Quảng Ninh. Ông trực tiếp khảo sát Đồn Hoành Mô và kết luận: dù quân số ít, dụng cụ thô sơ, vật chất thiếu thốn, nhưng công sự chiến đấu được cấu trúc công phu, vững chắc.

Đầu tháng 2/1979, phía bên kia tăng cường phương tiện chiến tranh sát biên giới, đào thêm công sự, bố trí hỏa lực chĩa thẳng vào ta. Có lúc cao điểm, họ dùng 80 xe vận tải quân sự chở bộ đội, vũ khí tập kết đối diện Hoành Mô – Đồng Văn.

Trước tình hình đó, Bộ Quốc phòng điều một số đơn vị của Sư đoàn 325 (Quân khu I) – sau chuyển thành Sư đoàn 395 Đặc khu Quảng Ninh – cùng Tiểu đoàn 130 bộ đội địa phương Bình Liêu bảo vệ biên giới. Bộ máy hiệp đồng được củng cố, tăng sức “đứng cùng nhau” của địa phương và lực lượng vũ trang.

Đêm 16/2 và sáng 17/2/1979: biên giới bừng lửa Đêm 16/2/1979, đối phương tấn công đánh chiếm cao điểm 585 tại bản Phai Làu (xã Đồng Văn) nhưng bị chặn đánh từ đầu.

Sáng 17/2/1979, lúc 5 giờ 30 phút, pháo lớn, cối nặng, ĐKZ và đại liên đồng loạt dội dọc tuyến biên giới Quảng Ninh. Riêng ở Bình Liêu, gần một trung đoàn bộ binh ồ ạt đánh vào Cao Ba Lanh và các cao điểm khác. Trước chống trả quyết liệt của ta, họ phải rút chạy về nước xin tiếp viện.

Anh hùng liệt sĩ Đỗ Chu Bỉ – người giữ chốt A1 Về Hạ Long, chúng tôi được ông Nguyễn Ngọc Đàm (nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh, Phó Tư lệnh Đặc khu phụ trách hậu cần) kể lại một cái tên khiến ai nghe cũng nghẹn: Anh hùng, liệt sĩ Đỗ Chu Bỉ.

Ông Bỉ sinh năm 1952, quê An Lâm, Nam Sách, Hải Dương, là chiến sĩ Đại đội 6, Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Ninh.

Ngày 1/3/1979, đối phương tấn công Bình Liêu theo kiểu “biển người”. Đỗ Chu Bỉ trực tiếp chỉ huy giữ chốt A1 – vị trí án ngữ tuyến đầu, cách biên giới 300m, cách Đồn Hoành Mô 400m. Họ dội pháo liên tục suốt một giờ (từ 5h45 đến 6h45). Pháo vừa dứt, bốn tiểu đoàn ào lên.

Trong tình huống ấy, ông Bỉ vẫn bình tĩnh chờ địch áp sát rồi mới cho nổ súng đồng loạt, đánh bật nhiều đợt xung phong. Địch lùi ra lại gọi pháo; pháo chuyển làn, bộ binh lại tràn lên. Thất bại hai đợt, họ tăng viện thêm một tiểu đoàn, chia hai mũi: một đánh Đồn Hoành Mô, một đánh chốt A1. Ông Bỉ chỉ huy đánh cả hai hướng, diệt 20 tên; dù bị thương ở tay và sườn vẫn không rời trận địa.

Trời mưa, chiến hào lầy lội, ông tổ chức đưa thương binh, tử sĩ sang chốt A2 rồi tiếp tục giữ A1. Cuối cùng, ông hy sinh tại mặt trận.

Ngày 19/12/1979, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký quyết định truy tặng liệt sĩ Đỗ Chu Bỉ danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Theo thống kê được nhắc lại trong câu chuyện, sau 11 ngày đêm chiến đấu, mặt trận Bình Liêu tiêu diệt hơn 800 quân xâm lược, phá hủy/đốt cháy 3 súng đại liên cùng nhiều vũ khí, quân trang khác. Ngày 19–20/4/1979, Tỉnh ủy – UBND Quảng Ninh tổ chức mừng công; 11 đơn vị được trao trướng: “Anh dũng, mưu trí đánh thắng giặc Trung Quốc xâm lược”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Bản hùng ca trên quê hương hoa sở – và “cột mốc lòng người” đi cùng thời gian | Câu chuyện thời hoa lửa