Bản hùng ca trên sóng nước Bạch Đằng
Trước họa xâm lăng từ quân Nam Hán, Ngô Quyền đã tận dụng quy luật thủy triều và địa thế sông Bạch Đằng để bày ra trận địa cọc gỗ bịt sắt dưới lòng sông. Bằng kế sách nhử địch khôn khéo, ông đã lừa toàn bộ chiến thuyền đồ sộ của giặc vào trận địa khi nước dâng cao. Khi thủy triều rút mạnh, thuyền giặc bị cọc nhọn đâm thủng và tan vỡ hàng loạt, quân ta tổng lực phản công khiến quân Nam Hán đại bại, chủ tướng Hoằng Tháo tử trận. Chiến thắng này đã chính thức chấm dứt hơn 1000 năm Bắc thuộc, mở ra
Năm ấy, phương Nam mây mù che lối. Kiều Công Tiễn vì lòng tham vô độ đã ra tay sát hại chủ tướng Dương Đình Nghệ để đoạt chức Tiết độ sứ. Hắn không ngờ rằng hành động phản nghịch ấy đã thổi bùng lên ngọn lửa phẫn nộ của nhân dân khắp cõi Giao Châu. Hoảng sợ trước sự trừng phạt của công lý, Tiễn hèn nhát sai sứ sang cầu cứu nhà Nam Hán. Vua Nam Hán bấy giờ là Lưu Cung, kẻ luôn nuôi mộng thôn tính phương Nam, chỉ chờ có thế. Lão lập tức phong con trai là Vạn Vương Hoằng Tháo làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, thống lĩnh một hạm đội chiến thuyền hùng hậu tiến đánh nước ta.
Lúc này, tại vùng đất Ái Châu, có một vị tướng tài ba tên là Ngô Quyền. Ông là người khôi ngô, mắt sáng như chớp, dáng đi thong dong như hổ, sức có thể nâng vạc đá. Nghe tin cha vợ bị hại và giặc ngoại xâm đang lăm le ngoài cửa ngõ, Ngô Quyền lập tức tập hợp binh sĩ. Tiếng gọi của ông vang đến đâu, hào kiệt khắp nơi tìm về đến đó. Chỉ trong một thời gian ngắn, ông tiến quân ra Bắc, tiêu diệt tên phản tặc Kiều Công Tiễn, dọn sạch nội thù để rảnh tay đối phó với ngoại xâm.
Đứng trước cửa sông Bạch Đằng nhìn ra biển rộng, Ngô Quyền trầm tư quan sát con nước. Ông biết rằng quân Nam Hán cậy thuyền to, súng ống và quân đông. Nếu đánh chính diện trên biển, quân ta sẽ chịu nhiều bất lợi. Đêm đêm, ông đứng bên bờ sông, theo dõi từng nhịp lên xuống của thủy triều. Một kế hoạch táo bạo và thiên tài dần hình thành trong đầu vị chủ tướng.
Ông ra lệnh cho quân dân lên rừng tìm những cây gỗ cổ thụ bền chắc nhất, đem về vót nhọn và bịt sắt vào đầu. Hàng ngàn chiếc cọc gỗ như vậy đã được chế tạo. Dưới sự chỉ huy sát sao, hàng vạn quân sĩ và dân chài vùng biển đã cùng nhau đóng những chiếc cọc ấy xuống lòng sông Bạch Đằng tại những điểm hiểm yếu nhất. Công việc diễn ra lặng lẽ nhưng khẩn trương. Khi thủy triều lên, mặt nước mênh mông bao trùm lên tất cả, giấu đi trận địa cọc nhọn đầy chết chóc.
Vào một buổi sáng mù sương cuối năm 938, hạm đội của Hoằng Tháo xuất hiện ngoài cửa biển. Những chiếc thuyền chiến cao lớn như những tòa nhà di động, cờ xí rợp trời, trống thúc vang rền cả một vùng duyên hải. Hoằng Tháo đứng trên soái hạm, tự mãn nhìn dải đất phương Nam, tin rằng chiến thắng đã nằm chắc trong tay.
Ngô Quyền ra lệnh cho một toán thuyền nhẹ ra khiêu chiến. Quân ta vừa đánh vừa rút, giả vờ như khiếp sợ trước sức mạnh của quân giặc. Hoằng Tháo cười lớn, ra lệnh cho đại quân dốc toàn lực đuổi theo. Đoàn thuyền giặc băng băng lướt trên mặt nước đang dâng cao, vượt qua trận địa cọc mà không hề hay biết. Chúng tiến sâu vào lòng sông, nơi quân ta đã chờ sẵn.
Đúng lúc ấy, thủy triều bắt đầu rút. Nước rút nhanh như thác đổ, kéo theo lòng sông hạ thấp dần. Ngô Quyền đứng trên thuyền chỉ huy, phất cờ lệnh. Tiếng trống trận vang lên như sấm rền từ hai bên bờ rừng rậm. Quân ta từ các ngả bất ngờ quay thuyền lại, đánh trực diện vào đội hình giặc. Từ hai bên bờ, những toán quân phục kích tràn ra, cung nỏ và hỏa tiễn trút xuống như mưa.
Quân Nam Hán hoảng loạn tháo chạy ra phía cửa biển. Nhưng khi chúng quay đầu lại thì hỡi ôi, nước đã rút sâu, lộ ra những mũi cọc gỗ bịt sắt nhọn hoắt, đen kịt như những hàng chông khổng lồ. Những chiếc chiến thuyền đồ sộ của giặc do đà chạy mạnh đã đâm sầm vào bãi cọc. Tiếng gỗ vỡ răng rắc vang lên ghê rợn. Thuyền giặc cái thì thủng đáy chìm nghỉm, cái thì mắc cạn làm vật cản cho những chiếc sau.
Cả khúc sông Bạch Đằng trở thành một chiến trường rực lửa và hỗn loạn. Máu giặc nhuộm đỏ dòng nước đại giang. Hoằng Tháo trong cơn tuyệt vọng đã tử trận giữa đám loạn quân. Quân Nam Hán mười phần thì chết đến sáu bảy, kẻ sống sót cũng kinh hồn bạt vía, tìm đường tháo chạy về phương Bắc.



