Bản hùng ca từ chiến khu Bảy Thưa
Ông Trần Văn Thành (sinh dưới triều Minh Mạng), quê Bình Tiên, Vĩnh An (nay thuộc Đồng Tháp), từng là Chánh quản cơ của triều Nguyễn. Sau khi Pháp chiếm Nam Kỳ năm 1867, ông không tuân lệnh giải giáp mà cùng tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương và nhân dân lập căn cứ Láng Linh – Bảy Thưa chống Pháp. Nhân dân tôn kính ông là Đức Cố Quản và lập đền thờ để tưởng nhớ công lao.
Ông Trần Văn Thành, sinh ra dưới triều Minh Mạng, trong một gia đình nông dân khá giả ở rạch Thủ Điềm, thôn Bình Tiên, huyện Vĩnh An, tỉnh An Giang (nay thuộc xã Tân Phú Trung, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp).
Thuở nhỏ có học chữ Nho và võ nghệ với thầy đồ và thầy nghề võ trong làng.
Sau khi cưới vợ một thời gian, vợ chồng ông về ở ấp Bình Phú (Cồn Nhỏ), thôn Bình Thạnh Đông, tổng An Lương, huyện Đông Xuyên, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc ấp Bình Thành, xã Phú Bình, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang).
Năm 1840, ông gia nhập quân đội nhà Nguyễn. Nhờ có sức khỏe, giỏi võ nghệ, khá thông thạo chữ nghĩa, nên ông được cử làm suất đội (chỉ huy khoảng 50 lính), từng sang làm nhiệm vụ ở Chân Lạp. Dưới thời Thiệu Trị, ông được sai đem quân đánh dẹp phe nổi dậy ở Láng Cháy (Tri Tôn).
Năm 1845, ông được thăng làm Chánh quản cơ, coi 500 quân, đóng quân ở Châu Đốc để giữ gìn biên giới phía Tây Nam. Cuối năm Đinh Mùi (1847), tình hình biên giới Tây Nam đã ổn định, thực hiện chính sách "ngụ binh ư nông", triều đình cho giải ngũ một số binh sĩ, trong đó có cơ biền của ông. Trước khi về lại quê nhà, ông được ban thưởng nhiều phẩm vật cùng một tờ chiếu khen là "Quản cơ tinh binh". Giải ngũ, ông cùng gia đình đến cư ngụ tại khu vực chùa Huê Viên (còn gọi là chùa Vườn Bông, nay thuộc xã Phú Bình, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang). Ông trở thành đệ tử thân tín của Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên, người khai sáng đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Nhờ có năng lực tổ chức chỉ huy và có võ nghệ, ông được Phật Thầy giao nhiều nhiệm vụ quan trọng như: khai hoang, lập trại ruộng ở Thới Sơn, Láng Linh... Trong cuộc khẩn hoang, Trần Văn Thành huy động binh sĩ cùng với nhân dân đào một con kinh chạy thẳng từ trung tâm Láng Linh ra vàm Cái Dầu. Con kinh này vừa đóng vai trò dẫn thủy nhập điền, mở mang diện tích canh tác, vừa là con đường vận chuyển lương thực từ sông Hậu vào chiến khu sau này.
Đến 1851, ông mang vợ con rời Cồn Nhỏ (Bình Thạnh Đông) đến vùng Nhà Bàng sau này, rồi đến Láng Linh (Châu Phú) lập trại ruộng để lo việc khẩn hoang. Tháng 2/1861, đại đồn Chí Hoa thất thủ, sau đó, quân Pháp lần lượt đánh chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Vua Tự Đức liền ra lời kêu gọi các sĩ dân nơi đây cùng hợp tác chống ngăn quân xâm lược. Hưởng ứng lệnh vua, ông trở lại đội ngũ. Năm 1865, triều đình lệnh cho Phan Thanh Giản, Kinh lược sứ ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, phải bắt Võ Duy Dương (còn gọi là Thiên hộ Dương) và Phan Thanh Giản đã phái ông thực hiện nhiệm vụ này nhưng ông chỉ làm cho lấy có, khuyên Thiên hộ Dương thực hiện kế hoạch "tức kỳ yểm cổ" chờ đợi thời cơ.
Đến tháng 6/1867, quân Pháp chiếm luôn ba tỉnh miền Tây. Triều đình hạ lệnh quan quân phải giải giáp. Ông không vâng lệnh triều đình, mà đưa quân bản bộ của mình và hô hào tín đồ đạo Bửu Sơn Kỳ Hương cùng nhân dân rút vào rừng Láng Linh - Bảy Thưa, lập căn cứ chống Pháp vào tháng 8/1867. Chiến đấu bên cạnh ông còn có hai người con trai của ông là Trần Văn Nhu và Trần Văn Chái.
Để tưởng nhớ công lao của ông, nhân dân và tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương tôn vinh ông là Đức Cố Quản, lập đền thờ ở xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Nho sĩ Cao Văn Cảo, người cùng thời, có làm bài thơ chữ Hán tưởng niệm ông. Có người (khuyết danh) dịch như sau:
Non sông Hồng Lạc, giặc xâm lăng
Thẳng thắn, Trần công cố sức ngăn.
Trời đất biết cho lòng sốt sắng,
Kiếp đời ghi mãi chí thù hằn.
Đền thờ tỏ dấu dân trong nước,
Thơ vịnh nêu tình khách viết văn.
Những đứa phản thần qua đến cửa,
Gục đầu, run mật, cặp mày nhăn.



