BẢN HÙNG CA VỀ 11 CÔ GÁI SÔNG HƯƠNG – NHỮNG ĐÓA HỒNG THÉP MÙA XUÂN MẬU THÂN
Tác giả: Phạm Thị Phương Anh
Dấu ấn kiên cường giữa lòng cố đô Trong dòng chảy lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 đã ghi dấu vô số chiến công hiển hách. Nhưng có lẽ, hình ảnh Tiểu đội 11 cô gái sông Hương – những người con gái xứ Huế dịu dàng nhưng vô cùng kiên cường – đã trở thành một biểu tượng bất tử về sức mạnh quật khởi của người phụ nữ Việt Nam. Họ vốn là những thiếu nữ tuổi đời còn rất trẻ, gác lại những mộng mơ khuê nữ để cầm súng đối đầu trực diện với lực lượng thiện chiến của kẻ thù.
Nhớ về những ngày đêm rực lửa và lời dặn nghẹn ngào Lưu tìm về căn nhà nhỏ nằm sâu trong kiệt 131 đường Bà Triệu (P. Phú Hội, TP. Huế), chúng tôi có cơ hội gặp gỡ bà Hoàng Thị Nở – một trong năm nhân chứng hiếm hoi của tiểu đội còn sống. Ở tuổi 68, dù trí nhớ đã giảm sút do những cơn đau hành hạ từ vết thương trúng đạn ở mang tai trái cùng các đợt phẫu thuật, nhưng ký ức về tiểu đội anh hùng năm xưa vẫn vẹn nguyên trong tâm trí bà.
Bà Nở hồi tưởng, tiểu đội được thành lập vào năm 1967 nhằm chuẩn bị cho Chiến dịch Mậu Thân 1968, bao gồm 11 cô thôn nữ chưa tròn 20 tuổi, hầu hết cùng quê ở làng Vân Thê, xã Thủy Thanh (TX. Hương Thủy, Thừa Thiên - Huế). Tiểu đội trưởng là chị Phạm Thị Liên (người sau này hy sinh năm 1972, được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND năm 1994 và tên chị được đặt cho một con đường tại P. Kim Long). Ban đầu, với lợi thế thông thuộc địa hình, nhiệm vụ của tiểu đội là làm giao liên, dẫn đường cho bộ đội chủ lực trong điều kiện bảo mật tuyệt đối.
Khi chiến dịch bùng nổ, tiểu đội đã góp sức quan trọng giúp quân ta làm chủ địa bàn phía nam TP. Huế suốt 26 ngày đêm. Tuy nhiên, cuộc chiến thực sự bước vào giai đoạn cam go khi địch tung lực lượng lớn phản công. Suốt 13 ngày đầu, các chị vẫn chỉ là những "o gái Huế" bình thường, mưu trí vào ra nội đô nắm tình hình. Nhưng trước thế trận ác liệt của kẻ thù, tất cả đã trực tiếp cầm súng chiến đấu. Sự khốc liệt ấy đã cướp đi mạng sống của 4 người đồng đội: chị Hoàng Thị Sau, Đỗ Thị Hoa (hy sinh ngày 12/02/1968) và chị Hoàng Thị Hết, Nguyễn Thị Diên (hy sinh ngày 24/02/1968). Bà Nở nghẹn ngào nhớ lại lời dặn của chị Hoa trước giờ chiến đấu: "Nếu chị chết, khi gặp mạ chị thì nói chị đi Bắc để mạ khỏi đau lòng". Lời dặn ấy như một vết cắt sâu vào ký ức của những người ở lại.
Tấm lòng gửi lại hậu phương và lời tri ân của lịch sử Sau 26 ngày đêm bám trụ anh dũng, tiểu đội rút lên căn cứ và vinh dự nhận được bài thơ khen ngợi từ Bác Hồ:
"Dõng dạc tay cầm khẩu súng trường. Khôn ngoan dàn trận khắp trong phường. Bác khen các cháu dân quân gái. Đánh giặc Hoa Kỳ phải nát xương."
Sau đó, tiểu đội được bổ sung lực lượng, phát triển thành Trung đội Võ Thị Sáu. Mối tình nhà nợ nước vẫn tiếp tục thử thách các chị khi Tiểu đội phó Hoàng Thị Cúc hy sinh năm 1969 và Tiểu đội trưởng Phạm Thị Liên ngã xuống năm 1972. 5 người còn lại – gồm các bà Hoàng Thị Nở, Nguyễn Thị Hợi, Lê Thị Xê, Nguyễn Thị Hoa và Chế Thị Mừng – vẫn tiếp tục chiến đấu cho đến ngày đất nước hoàn toàn thống nhất.
Trở về cuộc sống hòa bình, mỗi người chọn một con đường riêng nhưng đều chịu ảnh hưởng bởi thương tật chiến tranh. Bà Chế Thị Mừng – đội viên trẻ nhất gia nhập cách mạng từ năm 14-15 tuổi – mang trong mình câu chuyện xót xa. Gia đình bà từng nuôi giấu bộ đội, chị gái hy sinh khi chưa đầy 20 tuổi, cha bị tù đày, gia cảnh khốn đốn. Trốn mẹ ra đi theo tiếng gọi cách mạng trong một đêm tối với chiếc ba lô tự chế từ bao đựng bột mì, bà Mừng đâu ngờ rằng ngày mẹ mất, bà đã không thể ở bên để nhìn mặt lần cuối.
Câu chuyện cảm động của bà Mừng từng khiến vị giáo sư người Mỹ Mark Bowden (Đại học Loyola Maryland) phải lặng người thán phục khi đến phỏng vấn bà. . Giờ đây, con gái bà Mừng – chị Chế Thị Xuân Nhi (25 tuổi) – chia sẻ rằng việc thấu hiểu quá khứ không phải để nuôi dưỡng lòng thù hận, mà là động lực để thế hệ trẻ sống, học tập và nỗ lực cống hiến, xoa dịu những vết thương lịch sử.


