Bài viết

BẢN HÙNG CA VỀ TUỔI MƯỜI CHÍN BẤT TỬ

An Giang09/04/2026Xã Đoàn Định Mỹ (Xã Đoàn Định Mỹ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Lịch sử dân tộc Việt Nam không chỉ được viết bằng mực, mà còn được viết bằng dòng máu nóng của những người con đã ngã xuống khi tuổi đời còn xanh thẳm. Trong danh sách những người anh hùng ấy, cái tên Phan Văn Hân – người chiến sĩ đặc công thủy của vùng đất An Giang – hiện lên như một biểu tượng của sự hy sinh vô điều kiện. Suy ngẫm về cuộc đời ông, ta không chỉ thấy một trang sử vàng, mà còn thấy cả một triết lý sống cao đẹp về sự dấn thân của tuổi trẻ.

Đồng chí Phan Văn Hân còn có tên gọi là Phan Thành Long, còn gọi là Tư Long và Hai Sang. Ông sinh tháng 04 năm 1925 tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Cha ông là Phan Văn Bạch, là một trong những Đảng viên cộng sản đầu tiên của xã Nhơn Mỹ, đã bị giặc Pháp bắt năm 1939 và kết án lưu đày biệt xứ, hi sinh trong nhà lao Côn Đảo ngày 12 tháng 8 năm 1945. Khi đó, ông Phan Văn Hân đang học lớp nhất trường tỉnh ở Long Xuyên thì bị đuổi học vì cha là cộng sản. Ông liền lên đường tham gia cách mạng, gia nhập Đoàn thanh niên phản đế năm 1940. Được làm giao liên cho cơ quan liên tỉnh miền Tây. Cuối năm 1941, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam và được cử đi móc nối, tổ chức lại các cơ sở Đảng ở Chợ Mới.

Anh hùng Phan Thành Long bước vào cuộc chiến khi chỉ là một thiếu niên. Ở cái tuổi mà lẽ ra người ta được sống trong vòng tay bảo bọc của gia đình, được đến trường và nuôi dưỡng những ước mơ cá nhân, thì ông đã chọn lấy "súng làm bạn, sông nước làm chiến trường". Điều này cho thấy một nhận thức chính trị sớm sủa và lòng yêu nước mang tính bản năng nhưng cực kỳ quyết liệt. Ông hiểu rằng, khi quê hương còn tiếng súng, khi dòng sông quê cha đất tổ còn bị giày xéo bởi bóng tàu giặc, thì hạnh phúc cá nhân là một điều xa xỉ.

Để thuận lợi trong công tác, từ năm 1942, đồng chí Phan Văn Hân từ nghề mộc chuyển sang học dệt và lấy danh nghĩa là người hướng dẫn, dạy nghề dệt để đi khắp Chợ Mới, móc nối cơ sở, tuyên truyền và phát triển tổ chức cách mạng.

Năm 1945, với vai trò là Huyện ủy viên Chợ Mới, đồng chí tham gia giành chính quyền trong Cách Mạng Tháng Tám và Long Xuyên. Năm 1946, đồng chí Phan Văn Hân là Tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Long Xuyên, Bí thư Huyện ủy Chợ Mới. Năm 1947, cùng với tập thể Tỉnh ủy, đồng chí lo di tản dân sang các xã thuộc tả ngạn Sông Tiền, ổn định nơi ăn chốn ở cho tổ chức, xây dựng cơ sở, nối hệ thống toàn huyện trước khi toàn bộ các cơ quan tỉnh, huyện, xã dời vào vùng căn cứ Đồng Tháp Mười tiếp tục cuộc kháng chiến trường kỳ.

Tháng 11- 1952, đồng chí Phan Văn Hân nhận nhiệm vụ Bí thư Tỉnh ủy, kiêm Tỉnh đội trưởng và Trưởng Ty Công an tỉnh Long Châu Sa, lãnh đạo tăng gia sản xuất, đẩy mạnh công tác binh vận, tôn giáo vận và gầy dựng cơ sở ở vùng địch hậu, chống bắt lính, vận động nhân dân không đi lính cho Pháp; đồng thời tích cực chuẩn bị cơ sở bí mật cho cuộc kháng chiến. Năm 1955, đồng chí được điều về làm Khu ủy viên Khu 8. Năm 1960, đồng chí được Xứ ủy Nam Bộ điều động về Khu ủy Sài Gòn - Gia Định; từ năm 1960 đến 1965, đồng chí là Khu ủy viên; từ năm 1965 đến năm 1967, đồng chí là Ủy viên Thường vụ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định.

Tháng 10- 1967, đồng chí Phan Văn Hân được Khu ủy phân công nhiệm vụ hết sức đặc biệt: Cải trang công khai vào nội thành xây dựng nhiều cơ sở nội đô; hỗ trợ các cơ sở mật phục vụ cho cuộc cách mạng lâu dài. Năm 1968, đồng chí là một trong những người thuộc Bộ Tư lệnh Tiền Phương 2 (còn gọi là Bộ Chỉ huy Tiền Phương Nam), trực tiếp chỉ huy cánh quân của Phân khu 2, lực lượng Phân khu 2 gồm có Tiểu đoàn 6 Bình Tân, Tiểu đoàn 247, Tiểu đoàn 264 của Quân khu 8, cùng Tiểu đoàn 12 đặc công từ hướng tây tiến vào các Quận 6, 11, khám Chí Hòa, biệt khu Thủ Đô.

Tháng 5 năm 1968, trong đợt Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân, trên đường đi công tác, do bị chỉ điểm, đồng chí bị địch bắt. Chúng phát hiện đồng chí là nhân vật chủ chốt của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định nên tra tấn hết sức dã man. Năm 1972, địch đã thủ tiêu đồng chí Phan Văn Hân ở hầm P42, thay vào người khác để trao trả tù binh theo Hiệp định Paris….

Người Bí thư cộng sản đã hi sinh anh dũng. Nhưng lời anh dặn dò các đồng chí mình trong tù, qua các trại giam: “Hãy giữ vững khí tiết người cách mạng!” vẫn còn vang vọng mãi…

Sự hy sinh của ông ở tuổi mười chín vào năm 1968 đã để lại một khoảng lặng đầy xúc động. Mười chín tuổi – độ tuổi rực rỡ nhất của đời người, độ tuổi mà "sức dài vai rộng" có thể xoay chuyển cả tương lai. Nhưng Phan Thành Long đã chọn dâng hiến trọn vẹn tuổi mười chín ấy cho đất mẹ. Sự ngã xuống của ông là một "sự ra đi để trở về": trở về với lòng đất mẹ thân yêu, trở về với ký ức bất diệt của nhân dân. Ông không chết, ông chỉ đang hóa thân vào từng con sóng trên dòng sông Hậu, vào màu xanh của cây lá An Giang ngày nay.

Từ cuộc đời của anh hùng Phan Thành Long, thế hệ thanh niên hôm nay nhận được một thông điệp mạnh mẽ về trách nhiệm và thái độ sống. Trong một thế giới phẳng với nhiều cám dỗ và lối sống thực dụng, tấm gương của ông là một "chiếc gương soi" giúp chúng ta nhìn lại lý tưởng của mình. Sống anh hùng không nhất thiết phải là cầm súng ra trận, mà là biết chọn sống một cuộc đời có ích, biết đặt lợi ích của cộng đồng lên trên cái tôi vị kỷ và dám đương đầu với những thử thách khắc nghiệt để bảo vệ lẽ phải.

Anh hùng Phan Thành Long là minh chứng hùng hồn cho sức mạnh của tuổi trẻ Việt Nam. Cuộc đời ông tuy ngắn ngủi như một tia chớp, nhưng tia chớp ấy đã xé toác màn đêm chiến tranh, góp phần soi sáng con đường độc lập của dân tộc. Tên tuổi của ông sẽ mãi là nguồn cảm hứng bất tận, nhắc nhở chúng ta rằng: Hạnh phúc thật sự là khi ta được cống hiến và sống mãi trong lòng nhân dân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn