Bản hùng ca vùng đại ngàn Hương Sơn (1965 – 1968)
Bão táp miền ngàn và Khí thế Vành đai
Đầu năm 1965, khi chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" bị phá sản, đế quốc Mỹ điên cuồng chuyển sang chiến lược "Chiến tranh cục bộ", ồ ạt đưa quân Mỹ và quân chư hầu trực tiếp xâm lược Việt Nam. Tháng 2 năm 1965, những đơn vị lính thủy đánh bộ Mỹ đầu tiên đặt chân xuống cảng Đà Nẵng. Ngay sau đó, một tiểu đoàn lính Mỹ được điều ra chốt giữ Phú Bài, dựng nên căn cứ tiền phương nhằm khống chế tuyến huyết mạch Đà Nẵng - Huế, làm chỗ dựa cho quân ngụy ở vùng giới tuyến.
Ở vùng núi rừng Thừa Thiên, địch ra sức mở rộng lấn chiếm, liên tiếp dùng pháo hạm từ biển Thuận An bắn phá dọc đường 12, đường 74 và các khu vực thuộc Quận 4. Chúng độc ác rải chất độc hóa học từ xã Hương Lâm đến các vùng Tê Mi, A Xâm, Hương Sơn, làm cho nương rẫy, thôn bản bị tàn phá nặng nề.
Trước tình hình ngàn cân treo sợi tóc, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 11 (tháng 3/1965) đã nêu cao quyết tâm đánh Mỹ. Tiếp đó, tháng 7 năm 1965, Đại hội Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên họp với khẩu hiệu hành động: "Dám đánh Mỹ và quyết thắng Mỹ". Các "Vành đai diệt Mỹ" nhanh chóng ra đời: Vành đai Phú Bài (gồm Thủy Phương, Thủy Phù, Thủy Châu) và Vành đai Sơn An Nguyên (gồm Phong Sơn, Phong An, Phong Nguyên).
Sấm sét Khe Tre và Tiếng súng giữ núi rừng
Để mở rộng căn cứ địa miền núi Thừa Thiên - Huế, Tỉnh ủy quyết tâm xóa bỏ đồn Khe Tre và Nam Đông.
Ngày 8 tháng 5 năm 1965, Tiểu đoàn 800 (Trung đoàn 6) cùng sự hỗ trợ đắc lực của các chiến sĩ du kích người Cơ Tu đã âm thầm áp sát đồn Khe Tre, đặt pháo trên núi cao chĩa thẳng vào sào huyệt địch. Đúng 17 giờ 30 phút, họng pháo đồng loạt nhả đạn. Chỉ sau 20 phút chiến đấu bất ngờ và táo bạo, ta đã tiêu diệt hoàn toàn đồn Khe Tre.
Bị đòn đau, địch điên cuồng điều động 30 lượt máy bay lên thẳng cùng một tiểu đoàn lính đổ bộ phản kích. Tuy nhiên, Tiểu đoàn 802 (Sư đoàn 304), Tiểu đoàn 806 (Sư đoàn 341) kết hợp với lực lượng du kích địa phương đã tổ chức phục kích đón lỏng, tiêu diệt gọn quân địch ngay trong ngày. Chiến thắng Khe Tre - Nam Đông đã đập tan thế uy hiếp của địch, khai thông hành lang phía Tây Nam tỉnh Thừa Thiên.
Đứng trước yêu cầu mới, ngày 19/12/1966, Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết 65/SI06 đề ra nhiệm vụ toàn diện cho 6 tháng đầu năm 1966: đẩy mạnh chiến tranh du kích, tăng gia sản xuất chống đói, bảo vệ an ninh, duy trì phong trào Bình dân học vụ và củng cố tổ chức Đảng, Đoàn.
"Địch phá ngày, ta làm đêm" – Sức mạnh lòng dân
Giai đoạn 1966–1968, vùng đất Hương Sơn trở thành trọng điểm đánh phá ác liệt. Máy bay Khu trục, Elo 19, trực thang rải chất độc hóa học, bom B52 ném tọa độ đe dọa từng vạt rừng, con sông. Cuối năm 1966, rét đậm, mưa phùn kéo dài cùng dịch bệnh rết, thủy đậu, tiêu chảy hoành hành. Nhân dân Hương Sơn phải vào rừng đào củ mài, củ nâu thay cơm.
Giữa lúc muôn vàn khó khăn, Tỉnh ủy và Huyện ủy Quận 4 đã kịp thời phái các cán bộ kiên trung về nằm vùng chỉ đạo. Đồng chí Konh Bôn (người Hương Hữu), y sĩ Hồ Văn Len (người Hương Lâm) cùng đội ngũ đảng viên đã tỏa về 9 thôn bản tuyên truyền, động viên bà con giữ vững niềm tin.
Châm ngôn "Địch phá ngày, ta làm đêm", "Địch phá một, ta làm mười" trở thành mệnh lệnh sống. Bà con Cơ Tu cùng nhau trồng sắn ba trăng, khoai trơla, trỉa lúa, trồng ngô ở những nơi hẻo lánh sâu trong đầu nguồn. Nhờ sự vận động sát sao, phong trào ăn chín uống sôi, dùng thuốc ký ninh chống sốt rét được triển khai; chỉ sau 3 tháng, tình trạng thiếu đói và dịch bệnh cơ bản được đẩy lùi.
Trên mặt trận chiến đấu, du kích Hương Sơn dũng cảm lấy súng 12,7 ly và súng trường bắn máy bay địch. Các trận đánh tại đồi A Ninh, đồi Tê Mi, đồi A Lu, suối Lê Noong hay A Xâm đã đi vào lịch sử. Điển hình như trận đánh ở A Xâm, lực lượng du kích đã tiêu diệt gọn toán biệt kích, bắt sống 1 tên tù binh Mỹ, thu 2 khẩu tiểu liên, 1 khẩu Rulô, hơn 20 quả lựu đạn và bắn rơi 1 máy bay trực thăng. Tên tuổi của những chỉ huy du kích dũng cảm như 3 anh em trong một gia đình: Hồ Sĩ Thi, Hồ Sĩ Mét, Hồ Sĩ Tiến, cùng các đồng chí Trần Văn Thái, Lê Sĩ Xếp, Trần Văn San... đã làm cho quân Mỹ - ngụy khiếp vía. Trong cuộc chiến sinh tử ấy, đồng chí Trần Mai San đã anh dũng hy sinh tại đồi A Ninh (năm 1972).
Mầm xanh trên đá và Ánh sáng tương lai
Dù trong mưa bom bão đạn, tiếng trống trường vẫn vang lên giữa đại ngàn. Tại bản Ra Vang, trường tiểu học dành cho con em dân tộc Cơ Tu vẫn duy trì lớp học. Thầy trò tự tay đốn cây lồ-ô ghép làm bàn ghế. Bảng đen không có, họ dùng củ sắn phơi khô; giấy viết làm từ vỏ cây lồ-ô hun khói; phấn viết là những thỏi than, củ sắn phơi khô hay đá non mài từ lòng suối. Bữa ăn của thầy trò chỉ có củ mài, rau vót, canh không muối, nhưng ngọn lửa yêu nước và tinh thần hiếu học chưa bao giờ tắt.
Hương Sơn trở thành an toàn khu kiên cường, nơi Tỉnh ủy chọn đặt trường học cho học sinh Quận 1, 3, 4 trong những năm 1966–1967. Đến năm học 1968–1969, nhiều người con ưu tú của Hương Sơn như Pơ Loong Grưl, Hồ Thị Tuả (con Bí thư Hồ Konh Tuả), A Rìa (cháu Đội trưởng Xã đội Lê Hồng Kiên), Trần Xuân Bình, Hồ Sĩ Bích, Hồ Hùng (con Bí thư Konh Hom)... đã vượt Trường Sơn ra miền Bắc.
Từ miền Bắc, các em tiếp tục được đưa sang thành phố Quế Lâm (Trung Quốc) đào tạo. Lớp học sinh gian khổ năm xưa sau này đã trở thành những cán bộ quản lý giáo dục, những lãnh đạo chủ chốt của huyện Nam Đông (như các đồng chí Trần Xuân Bình, Hồ Sĩ Bích, Hồ Hùng, Ploong Grưl...) và nhiều đồng chí trưởng thành trong lực lượng vũ trang hay cán bộ xã như cô Căn Hom, tiếp tục cống hiến cho quê hương, đất nước.
Nguồn: Lịch sử Đảng bộ xã Hương Sơn (cũ)



