Bản lĩnh Đặc công Miền: Từ tổ chức độc lập đến bão lửa Kỷ Dậu 1969
Đoạn trích ghi lại giai đoạn chuyển mình quan trọng của lực lượng Đặc công Miền cuối năm 1968 – đầu năm 1969, khi Binh chủng được kiện toàn thành lực lượng độc lập để đối phó với chiến lược "quét và giữ" của Mỹ. Tác giả, trong vai trò Phó Tư lệnh Đặc công Miền, đã tái hiện sống động quá trình chuẩn bị cực kỳ công phu cho đợt tiến công Kỷ Dậu: từ việc nghiên cứu bản đồ quân sự của đối phương, xây dựng lữ đoàn 429 tinh nhuệ, đến nghệ thuật "bám trụ – lót ổ" ngay sát nách các sư đoàn sừng sỏ như "A
Tạm biệt Long An vào một ngày cuối năm 1968, tôi về lại đất miền Đông theo lệnh của Bộ tư lệnh Quân giải phóng Miền.
Thế là tôi đã sống trọn một mùa mưa của đất trời và một mùa ra trận với bao sôi động của cuộc tiến công và nổi dậy tại một chiến trường đầy sông ngòi, kênh lạch. Lúc mới đến thấy bâng khuâng xa lạ, khi ra đi lại bùi ngùi, lưu luyến. Có trải qua gian nan mới hiểu lòng nhau và thương nhau hết mức. Điều này thật đúng với cảnh và người của đất Long An - một cái túi đựng bom đạn Mỹ trút xuống theo công thức trải thảm hoặc tính theo tọa độ ô vuông; một vài nơi mà kẻ thù dùng làm thí nghiệm đủ kiểu loại hành quân, hết “tìm diệt”, “quét và giữ” lại đến bình định “đặc biệt”, bình định “cấp tốc” để gom dân lập ấp chiến lược, để thực hiện “tát nước bắt cá”, v.v... Nhưng từ trong cái tàn bạo và ác liệt ấy của quân thù, đã rèn đúc đồng bào, đồng chí Long An có ý chí rắn đanh, chắc khỏe, có tình cảm đùm bọc thương yêu, cho nhau và vì nhau. Sống nguyên tắc mà cũng rất vị tha hết mình. Phẩm giá con người ở đây vẫn son sắt, ngời sáng.
Trở lại đất miền Đông cũng vẫn bằng con đường hành lang quen thuộc, khác chăng là giờ đây cảnh vật khắc thêm những nét tàn phá vì chiến tranh, thấm thêm nhiều nước mắt và máu. Nhưng con người ở đây vẫn hiện rõ nét lạc quan trên gương mặt và những thân cây vẫn còn sức đề kháng hóa chất độc, hiên ngang vươn lên nền trời như chấp nhận, như thách đố. Cũng phải mất đúng một tuần lễ hành quân căng thẳng và vất vả, tôi mới về đến nơi làm việc của Bộ tham mưu Quân giải phóng Miền. Tại đây tôi được biết rõ hơn toàn cảnh bức tranh giàu màu sắc anh hùng ca của cuộc tiến công nổi dậy của quân và dân Mặt trận Sài Gòn. Đợt ba của cuộc tổng công kích đã kết thúc lừ ngày 30 tháng 9, nhưng dư âm các trận đánh của đặc công ở bắc và đông - bắc Sài Gòn vẫn đang được các hãng thông tin phương Tây nhận xét là những trận đánh tài tình của “Việt cộng” (tức Quân giải phóng) như các trận tiến công táo bạo vào căn cứ lữ đoàn 3 sư đoàn 25 ngụy ở Trảng Lớn, Cà Tum; vào đài truyền tin của Mỹ trên đỉnh núi Bà Đen; vào căn cứ Mỹ ở Chà Là, Bến Củi; vào vị trí sư đoàn 1 bộ binh Mỹ ở Lộc Ninh, v.v...
Cuộc tiến công và nổi dậy đồng loạt trên toàn chiến trường miền Nam đã giành được một thắng lợi lớn, làm đảo lộn thế chiến lược của địch, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ”, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào đàm phán với ta tại hội nghị Pa-ri.
Cũng những ngày này, chúng tôi còn nhận được tin tức về hoạt động của binh chủng qua thư từ trao đổi từ ngoài đó gửi vào, qua anh Mười Tịch (từ binh chủng cử vào được Bộ chỉ huy Miền bổ nhiệm lữ đoàn phó lữ đặc công 429 trực thuộc Miền) và qua cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 3, tiểu đoàn 14 (vào đây đổi thành tiểu đoàn 9) từ ngoài đó bổ sung cho chiến trường B.2 vừa vào tới kể lại...
Càng tự hào và cảm phục biết bao khi được tin các anh trong Bộ tư lệnh - một tập thể chỉ huy đầy tinh thần trách nhiệm và năng động đã tổ chức thành công Hội nghị tổng kết kinh nghiệm xây dựng và chiến đấu của lực lượng đặc công trong cuộc tiến công và nổi dậy xuân - hè năm 1968, rút ra được các vấn đề có tính nguyên tắc về tổ chức cơ cấu lực lượng, về phương thức tác chiến và về nội dung xây dựng binh chủng theo phương hướng tinh nhuệ, v.v... Những kết quả này các anh đã kịp thời gửi trở lại chiến trường, vào thấu tới B.2, đưa đến cho chúng tôi một luồng gió mới, một sinh khí mới, yên tâm với việc đã làm của mình là đứng hướng, soi sáng những việc chúng tôi đang làm và dự định sẽ làm, khi mà năm Kỷ Dậu đã sắp đến với nhiệm vụ mới đang chờ, khi mà kẻ thù đã bắt đầu dùng các thủ đoạn đánh phá mới, hòng lập lại thế cờ đã không có lợi cho chúng.
Sau ba ngày nghỉ xả hơi, tôi lại được đồng chí Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng Miền gọi lên giao nhiệm vụ. Lúc này đã là giữa tháng 10 năm 1968. Một mùa khô mới lại đến, những dấu hiệu của tình hình khẩn trương thật dễ thấy. Tiếng động cơ của xe cơ giới hòa với tiếng động cơ của máy bay ầm ì liên tục trong không gian chứng tỏ Mỹ đang điều chỉnh lực lượng, đang chuyển quân; thoảng xen lẫn tiếng nổ rền kẻo dài của những phi vụ máy bay B.52 trải thảm từ Lộc Ninh, từ chiến khu Dương Minh Châu, xa nữa là vùng Long Nguyên (Thủ Dầu Một) vọng lại.
Tuy không nói ra, nhưng anh Lê Đức Anh như muốn chia vui với cấp dưới sau thời gian đi làm nhiệm vụ trở về. Khác với giao nhiệm vụ lần trước, hôm nay trên bàn làm việc của anh có thuốc lá Điện Biên, chè Thanh Tâm và có cả kẹo cà phê Hải Châu - Hà Nội. Anh tự tay chế chè, bóc thuốc lá đưa phần cho tôi để cùng anh thưởng thức hương vị từ hậu phương miền Bắc gửi tới. Tôi vốn không quen dùng những thứ này nhưng hôm nay lại cảm nhận được nó rạch ròi mùi thơm của thuốc, vị chát sau để lại vị ngọt nhẹ thoảng nơi đầu lưỡi của chè, khi nó hòa tan vào cơ thể, gây một cảm giác hưng phấn dễ chịu.
Anh hỏi chuyện chiến đấu ở Long An, chuyện đánh cầu Bến Lức và tình hình trên đường hành lang. Anh hỏi thăm sức khỏe anh Chín cần, anh Tư Thân và các anh khác trong Bộ tư lệnh Phân khu 3. Chuyện chung mà sao ấm cúng, thân mật như anh em trong nhà. Đợi cho ấm trà cạn, điếu thuốc gần tàn, anh mới vào việc.
Anh nói: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy của ta đã đẩy Mỹ phải xuống thang, điều chỉnh lại chiến lược quân sự “tìm diệt” thay bằng “quét và giữ”, bình định “đặc biệt” thay bằng bình định “cấp tốc”. Nhưng trước mắt Mỹ vẫn ngoan cố, dùng sức mạnh quân sự tối đa1 để tiếp tục thực hiện chính sách xâm lược, mở các cuộc phản công, tiến hành “bình định cấp tốc” bằng mọi thủ đoạn dã man để phá bàn đạp tiến công ta, đẩy chủ lực ta ra xa các thành phố, thị xã... Theo chỉ thị của Bộ Chính trị vừa điện vào - anh nhấn mạnh - cần chuẩn bị gấp đợt cao điểm tiến công và nổi dậy vào mùa xuân, tiếp đó chuẩn bị đợt cao điểm mùa hè và những đợt sau nữa, thực hiện đánh cho “Mỹ cút” như Bác Hồ đã căn dặn. Trước mắt ta chưa có điều kiện tiến công vào Sài Gòn bằng binh chủng hợp thành vì sau thắng lợi của những đợt tiến công và nổi dậy của ta trong năm 1968, ta cũng gặp khó khăn nhất định về quân số, về bảo đảm vật chất; mặt khác địch chưa cam chịu, chúng đang gia tăng các cuộc hành quân “càn quét” xúc tiến các biện pháp phòng thủ tại chỗ kết hợp với lập tuyến “phòng thủ từ xa”, tạo thành nhiều tầng nhiều lớp hỗ trợ nhau nhằm giữ cho được các thành thị, các căn cứ quân sự, các đường giao thông quan trọng, các vùng đồng bằng đồng dân nhiều của. Vì vậy quyết tâm của Trung ương cục và Quân ủy Miền là: Phát huy thắng lợi đã giành được, khắc phục tư tưởng hữu khuynh tiếp tục tiến công, đặc biệt coi trọng việc tổ chức, chỉ huy các lực lượng đặc công tiến hành chiến đấu nhằm tiêu diệt những sinh lực quan trọng của địch.
Ngừng một lát, ho nhẹ như để lấy giọng, anh nói tiếp với nhịp điệu sôi nổi: Mục tiêu chủ yếu hiện nay của lực lượng đặc công là hướng vào các căn cứ, các sở chỉ huy, các kho tàng bến cảng của Mỹ, thực hiện đánh bồi, đánh nhồi, đánh bỏ để tiêu diệt sinh lực địch, làm vô hiệu hóa các tuyến phòng thủ vòng ngoài của chúng, giữ vững thế cài răng lược giữa ta và địch trên chiến trường Đông Nam Bộ - Rồi như để củng cố lòng tin cho tôi, anh nhấn mạnh - tiến công bằng cách đánh đặc công là thích hợp nhất trong lúc này, vì với lực lượng nhỏ mà tinh, ta có điều kiện bí mật luồn sâu, ém sẵn, tạo thế bất ngờ đối với địch để tiến công tiêu diệt sinh lực địch - Đến đây anh nhìn thẳng vào tôi như để động viên khi giao nhiệm vụ - để đáp ứng được tình hình, nhiệm vụ thay đổi, Bộ tư lệnh Miền quyết định xây dựng đặc công Miền thành binh chủng độc lập và cử anh giữ chức phó tư lệnh.
Thế là tôi lại trở về với gia đình đặc công của mình để cùng các anh Mười Thọ tư lệnh, anh Năm Phúc chính ủy và anh Tư Cang phó tư lệnh lo khẩn trương triển khai nhiệm vụ trên giao. Tuy mới xa nhau chưa đầy năm vậy mà khi gặp lại nhau, ai nấy đều gầy, gương mặt hốc hác vi vừa trải qua một cuộc chiến đấu hào hùng và cũng lắm vất vả gian nan. Mặc dù vậy, các anh vẫn rất nhiệt tình và đang say sưa với công việc chuẩn bị cho đợt hoạt động tới. Cái sôi nổi lạc quan của các anh đã tiếp sức nhanh sang tôi; niềm tin khi nghe anh Lê Đức Anh phân tích lúc giao nhiệm vụ, khi về đây niềm tin ấy được nhân lên mạnh mẽ, giúp tôi nhập cuộc nhanh chóng, không chút ngỡ ngàng.
Một tấm “bản đồ đặc biệt quân khu III” có in kèm chữ Anh (III Military Region Special Map) được trải sẵn trên nền căn nhà dã chiến ẩn mình dưới rừng le - nơi làm việc của Bộ tư lệnh Đặc công Miền. Bốn chúng tôi chụm đầu vào nhau trên tấm bản đồ thu được của địch này. Chỉ cần xem xét trên bản đồ đã thấy sự đầy ắp lính Mỹ trên đất miền Đông, vẫn từ trước, sư đoàn 1 bộ binh mang tên “Anh cả đỏ” đứng chân ở Thủ Dầu Một - Lai Khê, sư đoàn bộ binh 25 mang tên “Tia chớp nhiệt đới” - đứng chân ở Củ Chi - Đồng Dù, nay có thêm hai sư đoàn sừng sỏ nữa: sư đoàn ky binh bay số 1 được trang bị 450 máy bay lên thẳng các loại và đại bộ phận sư đoàn dù 101 điều từ An Khê, tây Thừa Thiên về đây làm nhiệm vụ cơ động “phòng thủ từ xa” đang dàn quân, diễu võ dương oai ở vùng giáp biên thuộc các tỉnh Tây Ninh, Bình Long, Phước Long (nay là tỉnh Sông Bé). Đây là chưa kể trung đoàn xe bọc thép số 11 của Mỹ, ba sư đoàn ngụy số 5, 25 và 18 và hàng trăm đại đội bảo an ngụy đang được dăng ra làm nhiệm vụ phòng ngự diện địa. Ấy là chưa kể địch đã tập trung nhiều tiểu đoàn chủ lực và lính bảo an để thực hành “bình định cấp tốc” ở vùng trọng điểm Sài Gòn - Gia Định.
Dưa vào tài liệu của Cục quân báo Miền và của các tổ trinh sát đặc công từ các hướng gửi về, kết hợp với nghiên cứu ngay trên tấm bản đồ có tỷ lệ 1/250.000 do cơ quan đồ bản quân đội Mỹ ấn hành, chúng tôi phân tích rõ về các loại căn cứ quân sự Mỹ, đâu là cụm tiểu đoàn hỗn hợp, đâu là khu kho hậu cần, khu sở chỉ huy hành quân của địch cùng với những đặc điểm địa hình xung quanh. Ngoài ra, để đề phòng ta tiến công, địch không đóng quân ngoài công sự như trước, mà đều có bố trí sẵn các căn cứ dã chiến có đủ công sự, vật cản, để phục vụ các cuộc hành quân và chốt giữ. Ở những nơi đoán biết có lực lượng ta, địch hạn chế đóng quân thành trung đoàn, lữ đoàn như trước, mà chia san thành các tiểu đoàn hỗn hợp, vừa có tác dụng tăng không gian kiểm soát vừa hỗ trợ cho nhau khi bị ta tiến công.
Hình thức phòng thủ và các thủ đoạn để thực hiện chiến lược phòng thủ của địch đã có những thay đổi, đòi hỏi chúng tôi phải suy nghĩ kỹ, phải lật đi lật lại các giả thuyết trước khi ta hạ quyết tâm chọn lựa mục tiêu tiến công. Đặc biệt trận tiến công mở đầu cho đợt hoạt động chung chỉ được quyền thắng. Nếu chỉ là một trận chiến đấu riêng lẻ của đặc công thì có thể tìm ra đáp số tương đối nhanh, đằng này đánh trong đội hình lớn có nhiều lực lượng tham gia mà đặc công phải có nhiệm vụ ngòi nổ. Một vấn để nữa đặt ra là nên tổ chức lực lượng như thế nào, phải bố trí cài thế ra sao, để có thể đạt hai yêu cầu; Đưa toàn bộ lực lượng đặc công cơ động của Miền vào tham gia chiến đấu đánh các mục tiêu được phân công, thực hiện tiêu diệt thật nhiều sinh lực cấp cao của địch; đồng thời phối hợp, hỗ trợ và tạo điều kiện cho các sư đoàn chủ lực đánh lớn theo phương thức binh chủng họp thành, gây thổi động mạnh mẽ vào vùng ven và nội độ, buộc địch phải nghiêm chỉnh đàm phán với ta tại Pa-ri.
Lại có những đêm suy nghĩ trăn trở, lo sao hoàn thành nhiệm vụ trên giao đúng thời gian quy định để kịp ngày N nổ súng thống nhất trên toàn bộ chiến trường Đông Nam Bộ. Theo kế hoạch của Bộ tư lệnh Miền, các sư đoàn chủ lực đã và đang triển khai đội hình chiến đấu trên toàn bộ mặt trận, ở hướng chủ yếu của đợt hoạt động cao điểm mùa xuân này là tây - bắc Sài Gòn cặp đường số 1 và đường số 13, sư đoàn 1 đã đến đứng chân ở khu Dương Minh Châu - Trảng Bàng - Gò Dầu để sẵn sàng phát triển về hướng Củ Chi khi tình hình cho phép. Sư đoàn 7 đã có mặt ở Dầu Tiếng - Bến Cát - Bến Tranh, đối diện với cụm các tiểu đoàn hỗn họp Mỹ. Sư đoàn 5 đang cấp tốc hành quân để kịp ém quân ở Long Giao (tỉnh Long Khánh) trên trục đường sô 15 Long Khánh - Vũng Tàu. Sư đoàn 9 làm lực lượng dự bị, đang nằm giấu mình ở khu vực Bổ Túc, Đồng Pan, sẵn sàng tung lực lượng vào các hướng khi nhiệm vụ yêu cầu và cấp trên ra lệnh.
Sau những ngày làm việc căng thẳng, nghiên cứu, trao đổi cả lúc ăn và khi đi ngủ, chúng tôi ai nấy đều sôi nổi đóng góp ý kiến và những ý kiến tuy có nhấn mạnh mặt này mặt kia theo góc độ nhìn của mỗi người, nhưng lại gặp nhau ở ý lớn - cài thế dưới đây.
- Đoàn 10 đặc công Rừng Sác bám đánh địch trên sông Lòng Tàu và sông Sài Gòn.
- Tiểu đoàn đặc công thuộc các sư đoàn bộ binh 1, 5, 7 và 9, chủ yếu bám đánh các cụm tiểu đoàn hỗn họp Mỹ; đồng thời sẵn sàng nhận lệnh điều động của Miền tham gia đánh các căn cứ lớn của Mỹ, đánh trong đội hình chiến dịch.
- Lực lượng đặc công cơ động trực thuộc Bộ tư lệnh đặc công Miền bám đánh các căn cứ lớn của Mỹ ở Đồng Dù, Lai Khê, Téc-ních v.v...
Đến tháng 2 năm 1969, do yêu cầu của nhiệm vụ, Bộ tư lệnh Miền quyết định cho thành lập trung đoàn đặc công 429, đến tháng 11 năm 1969 chuyển thành lữ đoàn 429 gồm ba tiểu đoàn và một sô đại đội độc lập trực thuộc Bộ tư lệnh đặc công Miền chuyên làm nhiệm vụ đánh các căn cứ lớn của Mỹ,
Lúc này các đơn vị đặc công đã triển khai bám trụ tại các địa bàn được phân công, hình thành ý đồ cài thế của Bộ tư lệnh Miền cho đợt hoạt động sắp mở màn. Đây là sự chuẩn bị có ý nghĩa rất quan trọng trong điều kiện dịch đánh phá quyết liệt để đẩy lực lượng chủ lực ta ra xa. Muốn bám đánh các căn cứ, hậu cứ, các kho tàng, sân bay, bến cảng, các sở chỉ huy sư đoàn, lữ đoàn địch, phải tìm cách bám trụ trước khi triển khai công việc chiến đấu cụ thể. Không có bám trụ không có chiến đấu. Bám trụ được xem như một “công đoạn” của giai đoạn chuẩn bị tổ chức chiến đấu, là một trong những nội dung của nghệ thuật tác chiến đặc công. Bởi trong điều kiện không gian, thời gian của Đông Nam Bộ ngày ấy, có tổ chức bám trụ tốt mới tiến hành điều nghiên, mới tổ chức ém quân lót ổ, sẵn sàng để khi các điều kiện chuẩn bị chiến đấu đã chín muồi là thực hành tiềm nhập tiên công tiêu diệt sinh lực địch. Nhưng việc bám trụ lại không đơn giản chút nào, vì địch luôn càn quét, đánh phá, đồng thời dùng hỏa lực xăm diệt suốt ngày đêm ở những nơi trọng điểm, nghi có lực lượng của ta. Đoàn 10 đặc công Rừng Sác bám trụ hoạt động ở vùng sông nước đầm lầy, phải chịu đựng trong điều kiện ăn ở, sinh hoạt vô cùng khó khăn, gian khổ. Từ sau Tết Mậu Thân, địch mở nhiều chiến dịch truy quét, dùng B.52 ném bom rải thảm, thả chất độc và bơm xăng vào khu Rừng Sác để khai quang địa hình nhằm diệt lực lượng biệt động - đặc công của ta, nhưng đoàn 10 đặc công vẫn tồn tại, vẫn bám trụ vững vàng được là nhờ tinh thần chịu đựng gian khổ hy sinh vô bờ bến của cán bộ chiến sĩ và do được đùm bọc che chở hết lòng của nhân dân.
Chúng tôi rất bằng lòng với một thế trận đã sẵn sàng trên đây. Một thế trận luồn sâu vào các tuyến phòng thủ của địch, vẫn bám và đang từng bước triển khai chuẩn bị tiến công vào các căn cứ, kho tàng, sân bay, bến cảng, vào các sở chỉ huy, các cụm đóng quân của bốn sư đoàn Mỹ và ba sư đoàn ngụy đang đứng chân ở chiến trường Đông Nam Bộ. Ở đâu có địch là ở dấy có lực lượng đặc công cài ém. Không đâu là an toàn đối với địch cả, mặc dầu số lượng quân địch cơ động ở Đông Nam Bộ lúc này đã tới con số kỷ lục.
Tất cả chúng tôi đều phấn khởi, tự tin vào công việc đã làm của mình nhưng lúc này đây ai nấy đều rất hồi hộp kèm theo cả lo lắng băn khoăn, là đến giờ khởi sự, có nhất loạt tiến công được không và hiệu quả của tiến công sẽ ra sao? Kẻ địch lúc này đây đang rất ngạo mạn chủ quan về sự điều chỉnh chiến lược cửa chúng. Bằng hành quân “quét giữ” và hành quân “bình định cấp tốc” chúng dương dương tự đắc là đã làm trong sạch địa bàn, đẩy được “Việt cộng” (tức là lực lượng vũ trang của ta) ra xa. Chúng tự tin là không thể tái diễn kiểu Mậu Thân 1968 nữa.
Lúc này đây đã là những ngày đầu của năm 1969. Mâu Thân sắp qua, Kỷ Dậu đang đến - năm “con gà” - một loài vật cần mẫn và lạc quan. Theo kế hoạch của Bộ tư lệnh Miền thì ngày giờ khởi sự kế hoạch bám trụ, tạo thuận lợi cho việc ém quân, lót ổ và điều nghiên, kỷ luật giữ bí mật được chấp hành nghiêm. Vất vả nhất lúc này là các tiểu đoàn 5, tiểu đoàn 3 trực thuộc Bộ tư lệnh đặc công Miền và tiểu đoàn 28 đặc công thuộc sư đoàn 7, vì phải từ xa vận động luồn sâu qua một hệ thông phòng ngự dày đặc của địch để đánh vào hai mục tiêu chủ yếu là sở chỉ huy sư đoàn bộ binh 25 Mỹ ở Đồng Dù và sở chỉ huy lữ đoàn 3 của sư đoàn này chốt giữ Dầu Tiếng.
Chúng tôi trong Bộ tư lệnh đặc công đã phân công nhau đi xuống trực tiếp các hướng. Anh Mười Thọ lữ đoàn trưởng trực tiếp đánh Dầu Tiếng. Tôi được chỉ định phụ trách chỉ huy đánh Đồng Dù. Chúng tôi tạm chia tay nhau từ rất sớm để kịp chuẩn bị cho ngày N.
Đêm 22 rạng ngày 23 tháng 2 năm 1969, đợt tiến công mùa xuân Kỷ Dậu của quân dân ta vào 36 thành phố, thị xã, vào 35 sở chỉ huy (từ trung đoàn trở lên) 38 sân bay... trên quy mô toàn chiến trường miền Nam bắt đầu.
Lực lượng đặc công Đông Nam Bộ đã hòa chung vào âm điệu của đợt hoạt động cao điểm này rất ăn khớp. Ngay từ phút đầu, ba lực lượng đặc công (tỉnh, sư đoàn và lực lượng đặc công cơ động trực thuộc Miền), đã đồng loạt nổ súng vào các mục tiêu được phân công.
Đêm nay thật vui! Súng nổ vang khắp nơi như pháo đón giao thừa vậy. Nhưng diễn biến và kết quả cụ thể đều chưa biết, nhưng cứ nghe cái âm thanh đầy sôi động hao hao giống Xuân 1968 từ bốn phương vọng về: từ vùng giáp biên xuống, từ khu trung tuyến Củ Chi - Thủ Dầu Một - Lai Khê - Biên Hòa (vỏ cứng bảo vệ Sài Gòn) thấu đến tận ven đô là đã hả lòng hả dạ.
Cái vui đã đến! Sau đó những tin tức cụ thể từ các nơi gửi về Bộ tư lệnh đặc công Miền và qua đó, tôi được biết khá nhanh mặc dù đang phải trực tiếp chuẩn bị đánh Đồng Dù: Đặc công tỉnh Biên Hòa đã nổ súng tiến công khu kho 50 Long Bình, phá hủy một nửa khu kho, diệt 150 lính Mỹ; đặc công sư đoàn 1 đánh thiệt hại nặng căn cứ Võ Tùng (Lộc Ninh); đặc công sư đoàn 7 tập kích vào một trung đoàn Mỹ ở Núi Cậu...
Nhưng không phải không có những giây phút hồi hộp căng thẳng. Ngay khi mặt trời lặn chúng tôi đã hướng tâm trí mình về nơi Dầu Tiếng. Vì đây là trận đánh mở đầu của đợt tiến công mùa xuân và cũng là một trong hai trận đánh then chốt của đặc công Miền - đánh vào sư đoàn 25 bộ binh Mỹ.
Sư đoàn 25 Mỹ giữ vai trò quan trọng trong tuyến phòng ngự cứng bảo vệ Sài Gòn ở hướng tây - bắc, với ba căn cứ; Lữ đoàn 1 ở Trảng Lớn, lữ đoàn 3 ở Dầu Tiếng, lữ đoàn 2 và sư đoàn bộ ở căn cứ Đồng Dù. Trong đợt tiến công và nổi dậy năm 1968 ta đã tiến công Trảng Lớn và tháng 7 năm 1968 đánh Dầu Tiếng. Vì vậy yếu tố bất ngờ có giảm, địch tăng cường đề phòng. Nhất là sau khi căn cứ Đồng Dù bị đặc công ta đánh hồi đầu tháng 1, thì địch càng rút kinh nghiệm về canh phòng, tăng thêm các phương tiện phòng thủ hiện đại. Vì vậy, trận đánh này anh Mười Thọ, lữ đoàn trưởng được phân công trực tiếp chỉ huy. Tiểu đoàn 5 được giao nhiệm vụ đánh Dầu Tiếng là một tiểu đoàn có nhiều kinh nghiệm chiến đấu.
Vào khoảng 12 giờ khuya, bỗng có tiếng súng lớn nổ từ phía Dầu Tiếng vọng lại. Tiếng nổ nghe rõ dần và liên tục. Tất cả chúng tôi đều thở phào nhẹ nhõm. Súng đã nổ! Thế nghĩa là ta đã tiến công. Mà tiến công có nghĩa là mọi việc chuẩn bị cho trận đánh như ém quân, tiềm nhập đã giải quyết tốt. Niềm vui chưa có hồi âm mà đã thấy có cơ sở để tin. Sau này khi về sơ kết quá trình diễn biến, càng cảm phục tinh thần dũng cảm, mưu trí khắc phục bao khó khăn để bám trụ, điều nghiên của cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 5 vì chỉ một sơ suất nhỏ về kỷ luật, về kỹ thuật ngụy trang là kẻ địch có thể phát hiện, dễ dàng gây cho ta những khó khăn những tổn thất khôn lường. Qua nghe anh Mười Thọ kể, chúng tôi đều xác định đây là một trận đánh hay của đặc công trong đợt mở màn tiến công mùa xuân 1969. Đặc biệt đã khéo tổ chức ém quân gần địch, điều nghiên xong là tổ chức chiến đấu được ngay, không phải có thời gian chờ đợi, nhanh chóng hình thành sáu mũi tiến công thực hiện bao vây chia cắt khi đột nhập vào căn cứ, diệt được nhiều sinh lực địch, phá được nhiều phương tiện chiến tranh (gần 800 lính Mỹ bị loại ra khỏi vòng chiến đấu, phá hủy nhiều xe quân sự, bảy khẩu pháo từ 105-155 ly). Trận chiến đấu diễn ra cực kỳ ác liệt, địch thua đau nhưng chúng vẫn gây cho ta thiệt hại đáng kể.
Dầu Tiếng là trận đánh thắng lợi, thực hiện đúng yêu cầu của Bộ chỉ huy Miền, đặc công làm nhiệm vụ mở ngòi, phối họp tuyệt đẹp với các sư đoàn chủ lực diệt các tiểu đoàn hỗn hợp Mỹ ở Trà Cao (Tây Ninh), ở Nước Trong (Biên Hòa).
Chiến thắng mở màn Dầu Tiếng đã khích lệ chúng tôi bước vào trận Đồng Dù tiếp theo ngay sau đó.



