Bản lĩnh kiên trung của người chiến sĩ cách mạng Nguyễn Trinh Cơ (Thanh Hóa)
Anh hùng Nguyễn Trinh Cơ (Thanh Hóa) – người chiến sĩ kiên trung của lực lượng vũ trang nhân dân với tinh thần mưu trí, quả cảm phi thường, trọn đời cống hiến vì độc lập, tự do của non sông đất nước.
Anh hùng Nguyễn Trinh Cơ (Thanh Hóa) – người chiến sĩ kiên trung của lực lượng vũ trang nhân dân với tinh thần mưu trí, quả cảm phi thường, trọn đời cống hiến vì độc lập, tự do của non sông đất nước.
Từ mảnh đất quê hương đến chiến trường khói lửa
Nguyễn Trinh Cơ (1915–1985) là một nhà y khoa người Việt Nam. Ông từng giữ các chức vụ Viện trưởng Viện Phẫu thuật Trung ương, Hiệu trưởng Trường Quân y sĩ Việt Bắc (tiền thân của Học viện Quân y ngày nay), Tổng Biên tập Tạp chí Y học Việt Nam xuất bản bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài; Phó Chủ tịch Hội Y học (nay là Tổng hội Y học Việt Nam); Chủ tịch Hội Ngoại khoa Việt Nam. Ông được Nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ năm 2000 vì những đóng góp cho nền y học Việt Nam.
Ông sinh ngày 13 tháng 5 năm 1915 tại Nông Cống, Thanh Hóa (nay là xã An Nông, Thanh Hóa). Thân phụ ông là một viên chức người Việt trong chính quyền thực dân Pháp tại Thanh Hóa, vì vậy ông có điều kiện theo học ngành y tại Trường Đại học Y Hà Nội. Năm 1943, ông tốt nghiệp khóa thứ tư bác sĩ nội trú các bệnh viện Hà Nội cùng với các tân bác sĩ Nguyễn Thúc Tùng, Phạm Biểu Tâm, Đặng Văn Chung, Hoàng Đình Cầu.... Không lâu sau, ông về làm bác sĩ tại bệnh viện Nam Định.
Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt tay tổ chức hệ thống y tế độc lập. Tuy nhiên, bấy giờ bác sĩ (Docteur) làm việc tại các bệnh viện công rất ít, hầu hết là y sĩ Đông Dương (Mesdecine Indochinois) ở lại làm việc. Chỉ riêng Hà Nội mới có Đốc tờ ở 3 bệnh viện: Bạch Mai, Phủ Doãn và Bệnh viện Mắt. Toàn miền Bắc, chỉ còn bốn bác sĩ (Docteur) chuyên mổ về đại phẫu các loại gồm các bác sĩ Tôn Thất Tùng, Phạm Biểu Tâm, Nguyễn Thúc Tùng và Nguyễn Trinh Cơ. Bấy giờ, với uy tín cá nhân, ông được bầu làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt của tỉnh và là Giám đốc Bệnh viện tỉnh Nam Định. Ông được ông Đỗ Mười giới thiệu kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1946.
Sau ngày Toàn quốc kháng chiến, ông được phân công công tác thành lập bệnh viện ngoại khoa dã chiến đóng ở xã Xuất Cốc thuộc huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
Tháng 3 năm 1949, khi Trường Quân y sĩ Việt Nam được thành lập tại thôn Tuần Lũng, xã Hoàng Hoa, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, ông được điều về làm Phó Hiệu trưởng và sau đó, tháng 9 năm 1949 trở thành Hiệu trưởng Nhà trường. Ông là Hiệu trưởng thứ hai của Trường Quân y sĩ (tiền thân của Học viện Quân y ngày nay) và giữ chức vụ này đến tháng 1 năm 1951. Trên cương vị này, ông đã trực tiếp cứu chữa nhiều thương binh trong các chiến dịch Phủ Thông, Nà Phặc, Cao - Bắc - Lạng, Hoàng Hoa Thám..., đồng thời tham gia nhiều y sĩ để cung cấp cho chiến trường. Trong một lần cứu chữa một thiếu niên tên Trịnh Ngọc Trình, làm liên lạc viên của Đội Võ trang Tiểu đoàn 62, 87, Trung đoàn 34 bị dập nát cánh tay do đạn pháo mà ông ông đã buộc phải cưa tay, ông đã viết truyện ngắn "Em Ngọc" nổi tiếng một thời.
Tấm lòng kiên trung và ngọn lửa lý tưởng
Mùa xuân năm 1951, ông trở thành một thành viên của lớp cán bộ y tế đầu tiên được cử sang Liên Xô học tập. Sau bốn năm học tập, đầu năm 1955, ông về nước khi chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã kiểm soát hoàn toàn miền Bắc, được phong quân hàm Trung tá ngay trong đợt phong hàm đầu tiên. Cùng với các Giáo sư Hồ Đắc Di, Đỗ Xuân Hợp, Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ, Phạm Ngọc Thạch, Đặng Văn Chung, Trần Hữu Tước, Nguyễn Thế Khánh... ông tham gia xây dựng nền Y tế và Quân y Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ năm 1958, ông lần lượt giữ nhiều cương vị công tác quan trọng của ngành như Chủ nhiệm Bộ môn Ngoại bệnh lý, Phó Hiệu trưởng rồi Hiệu trưởng Trường Đại học Y khoa Hà Nội, Phó Chủ tịch Tổng hội Y học, Tổng Biên tập Tạp chí Y học Việt Nam..., đồng thời tham gia công tác giảng dạy, điều trị và nghiên cứu khoa học. Hơn 40 năm hoạt động khoa học, để lại gần 100 công trình nghiên cứu có giá trị đăng trong các tạp chí nổi tiếng trong nước và quốc tế.
Nguyễn Lợi Cấp (1867–1935) thân sinh của giáo sư, bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ, tên tự Dụng Chí, hiệu Na Đông tiên sinh, thụy Minh Doãn Phủ Quân. Khoa thi Hương năm Đinh Dậu (1897) đỗ Cử nhân tại trường thi Thanh Hóa, 10 năm dạy học sau đó được bổ nhiệm Huấn đạo Lệ Thủy, Quảng Bình, 9 năm được thăng bổ Giáo thụ phủ Quảng Trạch, Quảng Bình, năm sau đổi làm Giáo thụ Tĩnh Gia, Thanh Hóa.
Sau khi đất nước thống nhất, ông được nhà nước Việt Nam phong hàm Giáo sư năm 1980. Năm 1983, ông nghỉ hưu nhưng vẫn tiếp tục tham gia công tác giảng dạy.
Ông qua đời lúc 6 giờ 30 phút ngày 24 tháng 3 năm 1985 (giờ UTC+07:00), thọ 70 tuổi.
Ghi nhận những chiến công đặc biệt xuất sắc và sự cống hiến quên mình vì nền độc lập tự do của Tổ quốc, Đảng và Nhà nước đã phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho đồng chí Nguyễn Trinh Cơ. Tấm gương sáng ngời của người anh hùng mãi mãi là niềm tự hào của quê hương Thanh Hóa và dân tộc Việt Nam, là bài học lịch sử vô giá soi đường cho các thế hệ trẻ hôm nay noi gương học tập và noi theo.
""Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, tinh thần của người chiến sĩ thời hoa lửa mãi mãi rực sáng.""


