Anh hùng Lực lượng vũ trang

BẢN LĨNH “NỮ TƯỚNG” XỨ DỪA

BẢN LĨNH “NỮ TƯỚNG” XỨ DỪA

Vĩnh Long22/08/2026Xã Thạnh Đông (Đoàn xã Thạnh Đông)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Là đại diện tiêu biểu cho hình ảnh kiên cường, bất khuất của người phụ nữ Việt Nam. Tên tuổi của bà gắn liền với cuộc kháng chiến trường kỳ chống Mỹ, cứu nước của dân, quân miền Nam. Thiếu tướng Nguyễn Thị Định là thuyền trưởng đầu tiên mở đường Hồ Chí Minh trên biển huyền thoại. Tầm ảnh hưởng của bà đã vượt ra khỏi lãnh thổ đất nước, được nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế ngưỡng mộ, kính trọng.Đánh giặc từ tuổi 16

Nguyễn Thị Định sinh năm 1920, còn được gọi là Út Định, Ba Định. Bà là con út thứ mười trong một gia đình có truyền thống yêu nước ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ngay từ khi còn nhỏ, Nguyễn Thị Định đã chịu ảnh hưởng của phong trào cách mạng địa phương. Được người anh ruột Ba Chẩn trực tiếp dìu dắt, năm 16 tuổi bà đã tham gia vào cuộc vận động đòi dân sinh, dân chủ tại quê nhà bằng nhiều hình thức như đi liên lạc, rải truyền đơn, vận động bà con nông dân chống lại sự áp bức, bóc lột của bọn cường hào, ác bá.

image.png

Ảnh trái: Nguyễn Thị Định thời trẻ; Ảnh phải: Bà Nguyễn Thị Định (đứng thứ 2 từ phải sang) và chồng Nguyễn Văn Bích trong ngày cưới năm 1938.

Năm 1938, Nguyễn Thị Định được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Cũng trong thời gian này, bà xây dựng gia đình cùng đồng chí Nguyễn Văn Bích, là một cán bộ hoạt động cách mạng tại Bến Tre. Từ năm 1940, cũng như nhiều tỉnh khác ở Nam Kỳ, Bến Tre bị giặc Pháp khủng bố, đàn áp một cách dã man. Nhiều cơ sở cách mạng bị địch phá, hàng loạt đảng viên bị bắt, bị tù đày ở Côn Đảo, trong đó có chồng bà. Bản thân bà thì bị đưa đi giam giữ ở Bà Rá.

Sau một thời gian kiên cường đấu tranh với đòn roi của giặc, đến năm 1943, bà cùng một số đồng chí khác thoát khỏi nhà tù, trở về địa phương. Sau đó không lâu thì nghe tin chồng đã hy sinh ngoài Côn Đảo, Nguyễn Thị Định ráng chịu nỗi đau, vươn lên vừa nuôi con vừa tham gia hoạt động cách mạng.

“Nữ thuyền trưởng đầu tiên” của chuyến tàu đưa vũ khí vào miền Nam

Vào tháng 3 năm 1946, trong khi đang giữ cương vị Ủy viên Ban Chấp hành Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh, Nguyễn Thị Định nhận được lệnh của Khu ủy Khu 8 và Tỉnh ủy Bến Tre, cùng đoàn đại biểu quân dân chính Khu đi bằng đường biển ra Trung ương với 2 nhiệm vụ chính: Báo cáo tình hình cách mạng miền Nam và xin chi viện vũ khí cho quân dân Nam Bộ đánh Pháp. Thành phần đoàn công tác bí mật này gồm đồng chí Đoàn Văn Trường (Tư lệnh Khu 8), nhà giáo Ca Văn Thỉnh, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp và người nữ duy nhất là Nguyễn Thị Định.

image.png

Thiếu tướng Nguyễn Thị Định trên đường Trường Sơn.

Phương tiện vượt biển lúc bấy giờ chỉ là một con thuyền gỗ, chèo bằng tay và sử dụng buồm để lợi dụng sức gió. Thuyền được ngụy trang giống thuyền đánh cá với những dụng cụ đặc trưng của cư dân miền biển. Hành trình của đoàn xuất phát vào một ngày cuối tháng 3-1946 từ Cồn Lợi (xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú) thẳng ra biển Đông, khi đến hải phận quốc tế thì chuyển hướng lên phía Bắc.

Thành viên trong đoàn sử dụng la bàn, xem thời tiết, hướng gió, nhìn sao ban đêm để định hướng di chuyển trên biển. Các phương án nghi binh khi gặp tàu tuần tra của địch đã được đặt ra, việc có thể gặp sự cố kỹ thuật cũng được tính đến.

image.png

Thiếu tướng Nguyễn Thị Định, Phó Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam, với chiến sĩ nghỉ giải lao trên đường hành quân

image.png

Thiếu tướng Nguyễn Thị Định cùng các chiến sĩ ăn cơm trên đường Trường Sơn

Nhờ lòng quả cảm, gan dạ, cùng với việc thông thạo địa hình miền sông nước, Nguyễn Thị Định đã vinh dự được giữ vai trò thuyền trưởng, khi ấy bà mới 26 tuổi. Bà cũng chính là người thuyền trưởng đầu tiên chèo lái con thuyền từ Nam ra Bắc xin Trung ương chi viện, sau đó nhận và đưa 12 tấn vũ khí quay trở về miền Nam. Nhờ lúc nhỏ từng quen sóng gió và bơi thuyền thúng rất giỏi nên bà vượt trùng dương mà không hề say sóng.

Đúng như dự đoán, con thuyền buồm ra Bắc lênh đênh trên biển sau 2 ngày thì gặp gió mạnh, cột buồm bị gãy. Sau khi hội ý, chỉ huy quyết định hướng mũi thuyền vào bờ. Nơi ấy là mũi Kê Gà, tỉnh Phan Thiết đã bị Pháp chiếm đóng. Đoàn quyết định bắt liên lạc để đi bộ xuyên rừng núi ra Khu 5. May sao, gió chuyển hướng Tây - Nam, đoàn thuê được một con thuyền khác, giương buồm tiếp tục cuộc hành trình ra Bắc.

Lần thứ 2, thuyền quay vào bờ đã là đất Phú Yên, khi ấy nơi đây là vùng tự do. Chính quyền cách mạng địa phương tiếp đón đoàn rồi theo đường bộ, giao liên đưa đoàn ra Quảng Ngãi. Tại đây, Tư lệnh Khu 5 lúc bấy giờ là đồng chí Nguyễn Sơn đã đón đoàn và bố trí đoàn ra Hà Nội bằng xe lửa.

Đoàn vinh dự được gặp Bác Hồ và trực tiếp trình bày nguyện vọng được Trung ương chi viện vũ khí về Nam đánh Pháp. Nghe Bác Hồ nói: “Thế nào Trung ương và Chính phủ cũng có súng gửi vào Nam. Nhưng nước ta còn nghèo, các cô các chú về, phải đánh Pháp cho giỏi, cướp lấy súng của nó dùng thì cái vốn đó mới nhiều”, cả đoàn mừng vui và xúc động!

Kết thúc chuyến đi ra miền Bắc, Nguyễn Thị Định đi thẳng vào Quảng Ngãi – trụ sở của Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam để nhận súng, tiền và tài liệu của Trung ương chi viện mang về cho Xứ ủy Nam Bộ. Nguyễn Thị Định vào tận kho để nhận phần chi viện cho Khu 8 và còn năn nỉ xin thêm: “Tôi mang một cây mà bị lộ thì tôi cũng chết, các anh cho tôi một ngàn cây tôi đi một chuyến cho đáng”.

image.png

Ảnh 1: Bà Nguyễn Thị Định đại diện cho đồng bào và phụ nữ miền Nam ra Thủ đô báo cáo tình hình với Bác Tôn; Ảnh 2: Bà Nguyễn Thị Định bắt tay, thăm hỏi các nữ chiến sĩ; Ảnh 3: Bà cùng 2 nữ chiến sĩ nghỉ chân trên đường đi công tác; Ảnh 4: Bà Nguyễn Thị Định cùng các nữ chiến sĩ quân đội; Ảnh 5: Bà Nguyễn Thị Định cùng đoàn đại biểu Hội LHPN giải phóng miền Nam nghỉ giải lao trong chuyến vượt Trường Sơn.

Sau khi nhận vũ khí, các đồng chí đi cùng đoàn ở lại miền Bắc nhận nhiệm vụ mới. Nguyễn Thị Định trực tiếp chỉ huy con thuyền chở vũ khí quay trở lại miền Nam. Cùng đi với bà còn có đồng chí Phong – cán bộ vô tuyến điện của Trung ương được bổ sung cho Khu 8 và hai đồng chí Vệ quốc đoàn của tỉnh Quảng Ngãi được cử đi theo bảo vệ thuyền.

Tình hình cấp thiết nhưng cũng gặp nhiều khó khăn vì các đồng chí còn lại trong đoàn đều chưa đi biển bao giờ, các đồng chí Vệ quốc đoàn còn trẻ, có sức khỏe nhưng chưa có kinh nghiệm chiến đấu. Sau khi tìm kiếm, cuối cùng đoàn cũng bổ sung được bốn người vốn là dân buôn bán gạo ở Gò Công, bị máy bay Pháp bắn chìm ghe nên cũng đang tìm đường về.

Con đường trên biển khi thuyền trở về vào mùa mưa nên gặp nhiều giông bão, lại phải đối phó với các tàu tuần tiễu của quân Pháp, nên thủy thủ đoàn phải thật khôn khéo, bình tĩnh mới vượt qua được những trạm kiểm soát của địch, thậm chí cả đoàn sẵn sàng hy sinh cho nổ tung con thuyền khi cần thiết.

Khi thuyền chở vũ khí chuẩn bị cập bờ Thạnh Phong (Bến Tre). Do thời điểm vào bờ lúc nước ròng, lại ban đêm, thuyền bị mắc cạn, Nguyễn Thị Định phải xuống thuyền thúng một mình bơi vào bờ để bắt liên lạc. Đây là loại thuyền hình tròn mà bà đã được ngư dân Phú Yên hướng dẫn cách sử dụng. Dân quân tự vệ xã Thạnh Phong phát hiện “thuyền lạ và người lạ” nên giữ lại xét hỏi. Sau một hồi vừa trả lời, vừa thẩm định tình hình và xác định đây là “quân ta”, bà mừng khôn tả, rồi xin gặp chỉ huy du kích địa phương truyền đạt chỉ đạo khẩn cấp dùng thuyền nhỏ chở số vũ khí về nơi tập kết ngay trong đêm ấy. Con thuyền chở vũ khí từ Bắc vào Nam lần đầu tiên cuối năm 1946 đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.

Sau này chính bà kể lại: “Ra đó, tôi chỉ chăm bẵm xin vũ khí. Gặp Bác không nói được nhiều mà khóc nhiều. Bác cũng không cầm nước mắt khi nhắc đến đồng bào miền Nam còn nhiều khó khăn, gian khổ”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn