Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Bản lĩnh Vỏ Bo Hong: Cuộc đấu trí giữa làn mưa bom Bảy Núi

Đoạn trích tái hiện giai đoạn trụ bám đầy kịch tính của lực lượng Đặc công tại núi Vỏ Bo Hong (Phụng Hoàng Sơn) sau khi vượt kênh Vĩnh Tế thành công. Giữa vòng vây của bom B-52, "bom bi râu" và sự lùng sục gắt gao của biệt kích, các chiến sĩ đã biến những hang đá hiểm trở thành pháo đài thép, kiên trì bám trụ dù thiếu thốn lương thực và thuốc men. Điểm nhấn của đoạn này là bản lĩnh của người chỉ huy Ba Trân khi bị bắt vẫn giữ vững khí tiết và sự mưu trí của đơn vị trong việc dùng nghi binh để ch

Lai Châu25/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Thế là chúng tôi đã vượt qua được một “cửa ải” cực kỳ hiểm nghèo. Nhưng một thử thách mới lại đặt ra đối với mọi người là xốc lại đội hình, tiếp tục cuộc hành quân về nơi tập kết cuối cùng. Đúng là chặng đường còn lại không dài, chỉ trên dưới ba mươi cây số nhưng phải trải qua nhiều đồn bót và ấp chiến lược do địch khống chế, nếu tổ chức chỉ huy không tốt thì số thương vong sẽ tăng lên, ảnh hưởng không nhỏ đến nhiệm vụ của chuyến đi. Xin chân thành biết ơn sự giúp đỡ chở che của nhân dân trên dọc đường mà chúng tôi phải đi qua; xin mãi mãi không quên hình ảnh các đồng chí giao liên của huyện Tịnh Biên đã dũng cảm và mưu trí trong nhiệm vụ dẫn đường, nhờ đó mà chúng tôi đã vượt qua “cửa ải” thứ hai đến được khu Bảy Núi một cách an toàn và đầy đủ.

Bảy Núi - cái địa danh thân quen ấy gồm rất nhiều núi nhưng có những hòn núi được mang những cái tên thật dân dã: Núi Dài, núi Sam, núi Bà Đợi, núi Dài Nhỏ, núi Túc Xoài, núi Cô Tô, v.v... nằm rải rác trên địa bàn hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn. Mỗi quả núi ở đây được xem như một căn cứ “lõm” của ta, kiên cường chống địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Một quần thể không liên hoàn, có hình thù to nhỏ khác nhau, lọt vào giữa một khu vực bốn bề đều có địch thì biết tập kết vào đâu để có thể vừa tiếp tục bám đánh địch vây quét, vừa làm “hậu cứ” dã chiến để tổ chức chiến đấu, đánh vào các mục tiêu mà Bộ tư lệnh Miền đã giao?

Đó là câu hỏi được đặt ra trước lúc đội quân lên đường, nó cứ lẩn vào trong nếp nghĩ của chúng tôi suốt chặng đường hành quân càng trở lên khẩn trương khi chúng tôi cập bên này bờ kênh Vĩnh Tế thuộc phần đất bạn; đến khi vượt kênh, nằm chờ ở khu sình lầy Mét Lung, Vĩnh Gia thì câu hỏi đó trở thành bức xúc, cần phải trả lời tức thì. Dựa vào hình dáng trên bản đồ quân sự, dựa vào tình hình cụ thể địch ta do các đồng chí huyện ủy Tịnh Biên và Tri Tôn cho biết, chúng tôi quyết định đưa toàn bộ đội hình vào tập két tại núi vỏ Bo Hong - một quả núi vừa hùng vĩ, hiểm trở vừa bề thế nhất vùng, có độ cao 700 mét, rộng ước khoảng ba mươi lăm cầy sô vuông. Ở một vùng đồng bằng tráng địa như thế này mọc lên một quả núi đồ sộ như thế quả là quý hiếm cả về danh thắng và thế đứng quân sự. Có thể xem nơi đây như một điểm tựa tự nhiên lý tưởng, nếu ta tổ chức lực lượng bám trụ tốt, sẽ tạo nên thế vu hồi thường trực uy hiếp mạnh mẽ tuyến phòng thủ chiến lược phía sau của địch, gây mất ổn định cho công cuộc “Việt Nam hóa chiến tranh” của chúng. Hang hốc ở vỏ Bo Hong không rộng sâu, liền chắc như các hang động của núi đá vôi ngoài Bắc nhưng lại nhiều, do các gộp đá liên kết tạo thành, rất thuận tiện cho việc phân tán đội hình, tránh được sự sát thương lớn của địch bằng hỏa lực tập trung.

Cũng phải mất gần mười ngày, chúng tôi mới thu quân xong. Vừa lúc đó cánh quân cuối cùng của sư đoàn 1 do anh Ba Trân chỉ huy vượt kênh Vĩnh Tế ở đoạn Tịnh Biên cũng tập kết về đầy đủ. Núi Vỏ Bo Hong bỗng trở nên “tấp nập”. Lòng núi mở rộng đón hơn hai ngàn người con thuộc đủ mọi miền của Tổ quốc. Và cũng từ đây - cái địa danh này trở thành “điểm nóng” của tình hình chiến sự ở hướng tây - bắc thuộc “vùng 4 chiến thuật” của địch. Núi Vỏ Bo Hong phải “gồng mình” lên để chịu dựng các trận mưa bom, bão đạn của địch nhằm hủy diệt mọi sự sống ở đây, cốt là để chúng tôi không còn tồn tại mà bám trụ được nữa.

Thất bại trong âm mưu chặn ta vượt kênh, địch đổ dồn đòn thù vào việc diệt ta khi đặt chân đến vùng Bảy Núi. Chỉ sự hiện diện của một binh đoàn chủ lực “Việt cộng” ở đây đã là hiện tượng khiến địch không thể nào chấp nhận được, bởi như thế là chúng đã thua về mặt chiến tranh tâm lý. Hơn nữa địch đã biết nước cờ ta đi tiếp sau nên bằng mọi giá chúng phải nhổ, phải cản phá. Về ý nghĩa nào đó, địch đã và đang chủ động phá ý đồ hoạt động của ta trong cái thế chung bị động. Địch huy động sức mạnh, thực hiện mọi thủ đoạn để bao vây, tiêu diệt ta trước khi ta tiến công chúng.

Vì vậy đối với chúng tôi, một vấn đề đặt ra gay gắt trước mắt là lo sao bảo toàn được lực lượng, trước khi tính chuyện triển khai kế hoạch hoạt động tiếp sau. Vất vả gian nan, đói khát và cả hy sinh mất mát nữa đang là hiện thực đối với chúng tôi, tồn tại kề bên. Sau cuộc hành quân đường dài, sau những đêm căng thẳng vượt kênh và những ngày len lỏi qua các đồn bót địch được vế đây, đã để lại trên gương mặt mọi người những nét mệt mỏi, hốc hác, nhưng không mất đi cái kiên nghị vững vàng. Một cuộc hội ý chóp nhoáng với các cán bộ tiểu đoàn được triệu tập. Thành phần dự hội ý đã đến đủ, chưa bắt đầu thì tiếng bom nổ như sấm rền, nhưng không nghe thấy tiếng động cơ máy bay. Đích thị là B.52. Chúng tôi ngồi sâu vào ngách hang, tiếng bom vẫn nổ tiếp, nóc hang rung chuyển, đất đá nơi cửa hang bụi mù, tung tóe từng mảnh. Nhưng không còn ai nao núng bởi mỗi chúng tôi đã quen nếm chịu cái cảnh này quá nhiều, trong những ngày chiến đấu ở mặt trận Đông Nam Bộ. Tiếng nổ của bom vừa hết là chúng tôi vào việc ngay.

Tôi tuyên bố lý do hội ý và tranh thủ trình bày những suy nghĩ của mình để anh em tham gia, làm cho kế hoạch hành động trước mắt hoàn hảo hơn. Qua tin tức địa phương cung cấp, qua thực tế mà chúng ta chứng kiến, chứng tỏ địch đang tìm mọi cách tiêu diệt chúng ta ngay trên vỏ Bo Hong. Chúng muốn nhổ chúng ta như nhổ những cây khi mới nảy mầm bén rễ, để lâu Sẽ nguy hiểm. Vì vậy chúng ta cũng phải từ đây - từ noi bám trụ này mà tổ chức đánh thắng địch. Chúng ta phải hoàn thành nhiệm vụ mà Bộ tư lệnh Miền đã đặt niềm tin ở chúng ta - những chiến sĩ đặc công có đầy đủ dũng cảm và mưu trí trong nhiệm vụ hỗ trợ nhân dân nổi dậy chống phá bình định, phá thế kìm kẹp để mở vùng, mở mảng, biến hậu phương địch thành tiền phương của ta không đâu trên dải đất miền Nam này là yên ổn với chúng cả.

Sự chăm chú lắng nghe với những cặp mắt đổ dồn về phía tôi như tán thưởng, càng khích lệ tôi, khiến tôi đã nói thêm những ý sau đây, ngoài sự chuẩn bị - tôi nói tiếp như nhấn mạnh - Chúng ta quyết bám trụ tại đây, nhưng không thể tồn tại trong thụ động, trong thu mình ẩn giấu nơi hang sâu. Kẻ địch không cho ta làm như thế, hơn nữa lương tâm và trách nhiệm càng không cho phép ta nghĩ như thế. Vì vậy theo tôi, muốn chiến đấu thắng địch, hoàn thành nhiệm vụ trên giao thì trước hết ta phải xốc lại đội hình, tổ chức chiến đấu để tồn tại...

Không khí cuộc hội ý bàn kế hoạch thực hiện nhiệm vụ diễn ra nghiêm túc với đầy đủ tinh thần trách nhiệm của những người dự họp. Tất cả các cán bộ tiểu đoàn có mặt hôm ấy đều tỏ thái độ nhất trí với cách đặt vấn đề của tôi, mà biểu hiện cụ thể là khi chuyển sang bàn biện pháp thực hiện thì ai nấy đều tỏ thái độ đóng góp. Các ý kiến nêu ra mang màu sắc kinh nghiệm từng trải của mỗi người, nhưng đều gặp nhau ở bàn tới chứ không bàn lùi. Ngồi nghe anh em phát biểu trong một cái hang chật hẹp vừa trải qua bom của máy bay B.52 giội xuống mà thấy thanh thản, lâng lâng. Đành rằng trọng trách của người chỉ huy lúc này là rất nặng, đòi hỏi tư duy phải nhạy bén, năng động và quyết đoàn, nhưng có được một tập thể mà mỗi người tự ý thức về công việc của mình đảm nhiệm, có bề dày thử thách trong tình huống gay cấn, thì chính họ sẽ ghé vai san gánh cho bớt được bao công việc bộn bề; ngay cả khi phải quyết đoán vẫn thấy rất yêm tâm vẫn tự tin mọi người sẵn sàng ủng hộ và nghiêm chỉnh thực hiện.

Tôi chú ý theo dõi ý kiến của từng người, bởi trách nhiệm của người lãnh đạo và chỉ huy phải gạn chắt những điều tinh túy, tạo thành cái chung chứa hết được những dũng cảm và thông minh của cái riêng do mọi người đóng góp. Đợi khi ý kiến đã cạn, tôi tranh thủ tóm tắt những biện pháp chiến đấu mà mọi người đều nhất trí;

1. Cần triệt để phân tán lực lượng nhưng không xé lẻ mà vẫn trên cơ sở các tổ chức chiến đấu sẵn có. Phân tán để tránh sát thương của hỏa lực địch chứ không để ẩn giấu. Phần tán vẫn hình thành đội hình chiến đấu, sẵn sàng đánh địch trên các hướng khi chúng dùng bộ binh tiến hành vây quét.

2. Tổ chức thông tin đến tận tổ ba người để nắm và phản ánh mọi diễn biến trong ngày, trên cơ sở đó kịp thời có kế hoạch xử trí thích hợp.

3. Mỗi tiểu đoàn và đại đội cần có một đến hai hang đá đầy đủ điều kiện an toàn làm trạm xá cứu chữa khi có thương binh.

4. Tổ chức thống nhất việc tiếp nhận lương thực, thực phẩm của nhân dân mang đến, có noi an toàn và phân phối ngay xuống các đơn vị. Từng tiểu đội, trung đội lo việc nấu ăn hàng ngày, nhưng cán bộ đại đội phải đi kiểm tra đôn đốc, cô gắng bảo đảm cho chiến sĩ ăn chín, uống chín, thực hiện nấu về đêm, tránh để lộ lửa khói từ các hang phát ra.

Cuộc hội ý kết thúc trong tình gắn bó, thương yêu nhau, thông cảm nhau hơn - một thứ tình cảm rất cần đối với tất cả mọi người khi mà cuộc chiến đấu đang vào thời điểm đầy thử thách cam go. Đúng là nỗi lo vợi đi khi có sức mạnh của tình đồng đội bù đắp. Cái thảnh thơi đến nhanh, lại có phút đứng ngoài cửa hang hít khí trời trong lành, tầm mắt được mở rộng, thấy rõ cảnh sắc núi Vỏ Bo Hong khiến tôi liên tưởng đến dãy núi đá hoa cương nhấp nhô, uốn lượn quanh khu danh thắng nơi đèo Cả quê mình. Phút nhớ quê hương vụt đến với bao xốn xang và lay động về nghĩa vụ và trách nhiệm với nơi mảnh đất mình đang đứng...

Theo kế hoạch đã định, hai hôm sau cuộc họp bàn kế hoạch chiến đấu họp đồng giữa bộ binh và đặc công được tiến hành. Đã gần một tháng tôi mới gặp anh Ba Trân, anh Lê Duy Mật trong Bộ tư lệnh sư đoàn. Qua các anh được biết cuộc vượt kênh của sư đoàn không thuận lợi chút nào. Tuy không gặp sình lầy như đoạn chúng tôi vượt, nhưng ở đoạn các anh vượt lại vấp phải chi khu quân sự Tịnh Biên - một chốt phòng ngự cứng của địch với hệ thống cứ điểm nhỏ bao quanh, dày đặc, nên số thương vong cũng không phải là ít. Nhìn các anh đủ biết nỗi lo trách nhiệm của người chỉ huy đối với sinh mạng toàn sư đoàn đã bám riết các anh suốt cả tháng trời nay vẫn còn đọng lại nơi khuôn mặt rám nắng, gầy xanh, hai mắt mệt mỏi, trũng sâu vì thiếu ngủ. Không ai bảo ai, tất cả chúng tôi đều im lặng với nỗi đau xót tưởng nhớ tới những đồng đội mình đã ngã xuống khi vượt kênh; với lòng mến phục và thương cảm gửi tới những người đồng chí bị thương trên dọc đường, cố lết về đến đây đang nằm điều trị ở các hang trạm xá với những mong vết thương chóng lành để trở lại đội hình chiến đấu.

Tình hình đang đặt chúng tôi vào một thế bất lợi. Quân số chiến đấu bị tiêu hao không phải ít, yếu tố bất ngờ chung coi như đã hết. Địch chẳng những biết rõ chủ trương cụ thể của đợt hoạt động mà còn biết rõ cả số hiệu các đơn vị đang tập kết ở khu Bảy Núi. Vì trong hàng ngũ ta có kẻ làm phản. Địch chỉ không biết quân số cụ thể của chúng tôi, điểm tiến công và ngày giờ nổ sủng. Bởi điều ấy đến hôm nay, trong cuộc họp Bộ tư lệnh chung này chúng tôi mới bàn. Đây là điều bí mật cốt lõi trong quân sự thì chúng tôi vẫn giữ được. Cũng chính vì thế mà chúng tôi không thay đổi ý định, vẫn quyết tâm thực hiện mệnh lệnh của Bộ tư lệnh Miền đã giao.

Mở đầu cuộc họp tôi báo cáo trước về kế hoạch tiến công của các đơn vị đặc công: Tiểu đoàn 7 đánh Vĩnh Trung; các tiểu đoàn 3,5,4 đánh Ba Xoài (Thực ra về quân số chỉ còn bằng một tiểu đoàn tăng cường vì tiểu đoàn 3, tiểu đoàn 5 số thương vong khi vượt kênh chiếm tỷ lệ khá cao). Các tiểu đoàn được giao nhiệm vụ đã tổ chức bộ phận đi điều nghiên.

Anh Ba Trân cũng vừa họp Bộ tư lệnh sư đoàn để thống nhất kế hoạch hoạt động hiệp đồng trong thế chung của chiến dịch. Theo anh Ba Trân cho biết, toàn sư đoàn chia thành ba lực lượng:

- Lực lượng thứ nhất, một trung đoàn tăng cường làm nhiệm vụ chặn viện, chủ yếu bố trí đón lõng ở hướng Tịnh Biên, tạo điều kiện cho lực lượng đặc công rảnh tay tiềm nhập tiến công tiêu diệt sinh lực địch.

- Hai lực lượng còn lại, mỗi bộ phận gồm một trung đoàn thiếu làm nhiệm vụ chốt giữ căn cứ Vĩnh Trung và Ba Xoài, sau khi các tiểu đoàn đặc công hoàn thành việc đánh chiếm hai căn cứ này rút ra, để hỗ trợ cho đồng bào nổi dậy.

Các đơn vị được giao nhiệm vụ đang gấp rút chấn chỉnh tổ chức, điều chỉnh lực lượng xong là lên đường ngay.

Tuy là một đơn vị hợp thành có tổ chức chỉ huy thống nhất nhưng trong tình hình khó khăn ở một chiến trường bị chia cắt, ta địch đứng trong thế cài răng lược, với những bom đạn địch giội xuống ác liệt như thế này, thì làm gì có điều kiện họp bàn nhiều và ngay cả khi nhiều việc mà là đi thẳng vào vấn đề; cần làm gì và làm ra sao. Thế là đủ.

Kế hoạch hoạt động và quyết tâm chiến đấu dược mọi người nhất trí. Cuộc họp kết thúc nhanh gọn. Anh Ba Trân thay mặt Bộ chỉ huy chung trở lại Đông Nam Bộ để xin Bộ tư lệnh Miền phê chuẩn quyết tâm chiến đấu. Tôi trở lại với các tiểu đoàn đặc công của mình bàn kế hoạch triển khai điều nghiên. Chúng tôi xiết chặt tay nhau tạm biệt với một mong ước chung làm sao cho ngày N chóng đến; mong anh Ba Trân nhanh trở lại mảnh đất Bảy Núi này để cùng nhau có mặt trong cuộc thử thách mới, ở một chiến trường cũng hoàn toàn mới lạ.

Nhưng chỉ vài giờ sau đó chúng tôi nhận được một tin không vui, kèm theo cả nỗi lo lắng cho toàn bộ diễn biến của đợt hoạt động sắp sửa bắt đầu. Đó là việc anh Ba Trân đã lọt vào ổ phục kích của địch bị chúng bắt trước lúc vượt kênh. Cả đêm hôm đó tôi không sao ngủ được vì tiếc thương người đồng chí, vì lo địch thu được tài liệu mà anh mang theo thì rất nguy! Nếu sự tình đã đến lúc như thế thì kế hoạch hoạt động có gì phải điều chỉnh, có nên tiếp tục điều nghiên căn cứ Vĩnh Trung, Ba Xoài nữa không? Nếu phải thay đổi thì hướng tiến công nên nhằm vào đâu trong khi chưa có quyết định thay đổi của Bộ tư lệnh Miền? Nhưng lạ thay, cái động tĩnh đêm nay lại dịu đi. Tình hình địch ở căn cứ Vĩnh Trung, Ba Xoài vẫn như cũ, chưa thấy dấu hiệu gì chứng tỏ chúng đang triển khai kế hoạch đối phó mới. Như thê có nghĩa là địch chưa phát hiện được kế hoạch hoạt động của ta, mặc dầu chúng đã bắt được anh Ba Trân khi chiều. Hay là chúng nghi binh, làm như không biết gì để dăng bẫy đánh mẻ lưới to (!?)...

Chiều hôm sau, Bộ chỉ huy chung chúng tôi lại họp. Anh Lê Duy Mật (nay là thiếu tướng, Phó tư lệnh Quân khu II), Phó tư lệnh Tham mưu trưởng chủ trì để bàn cách đối phó, sau khi anh Ba Trân bị bắt Cuộc họp chưa bắt đầu thì các đồng chí địa phương đến thông báo cho biết tương đối tỉ mỉ về việc địch đã bắt được ba chiến sĩ của ta, hai trẻ một già. Chúng khám rất kỹ đồng chí chiến sĩ già nhưng không thấy gì ngoài cái túi cứu thương đeo bên hông trong đó có một số bông băng và thuốc cấp cứu... Mới nghe đến đây, chúng tôi đã nhẹ nhõm thở phào, vẫn chưa hết lo cho tính mạng anh và các chiến sĩ bảo vệ anh sẽ ra sao trong những ngày tiếp nối, nhung một cảm phục cứ trào lên về sự lường định, sự thấy xa của anh Ba Trân. Anh đã giả dạng một y tá, một y sĩ để đề phòng sự cố - và xa hơn nữa, tất cả những nội dung mà chúng tôi họp bàn, những quyết tâm, không một ghi chép nào để trong người cả. Đây là một phong cách cần có, cần rèn luyện, để thích nghi với hoạt động ở nơi chiến trường ác liệt. Đành rằng nó bất lợi trong công tác điều nghiên, tổng kết, viết sử sau này, nhưng lại rất cần thiết như một tiêu chuẩn phải có của người chỉ huy trong hoàn cảnh cụ thể lúc đó.

Tại cuộc họp Bộ chỉ huy chung lần thứ hai này, chúng tôi nhận định tình hình một cách nghiêm tức hơn. Lật đi lật lại các hiện tượng về địch, về ta để tìm cho ra cốt lõi của vấn đề, không để cho hiện tượng che lấp bản chất. Yếu tố bất ngờ chung không còn nhưng yếu tố bất ngờ cụ thể (ngày giờ tiến công, mục tiêu tiến công và lực lượng tiến công) thì địch vẫn chưa biết, do ta giữ được bí mật. Mặt khác, tuy yếu tố bất ngờ chung không còn, lại có tác dụng gây cho địch càng chủ quan. Chúng đoán được lực lượng vượt kênh của ta đã bị tiêu hao nặng, tinh thần cán binh cộng sản đang chao đảo, lương thực cạn dần thì làm gì có khả năng đánh lớn.

Từ nhận định trên, chúng tôi một lần nữa xác định quyết tâm nghiêm chỉnh thực hiện mệnh lệnh của Bộ tư lệnh Miền đã giao. Các kế hoạch hoạt động tiếp tục triển khai, nhưng cần khẩn trương hơn, kỷ luật giữ bí mật phải được nghiêm túc thực hiện. Trong cuộc họp, chúng tôi nhấn thêm biện pháp chỉ đạo hoạt động nghi binh lừa địch (có cả địa phương tham dự), chúng tôi tung thêm mục tiêu sẽ tiến công và cho tổ chức trinh sát thực địa hẳn hoi* làm như sắp đánh trận đến nơi. Chúng tôi còn đưa ra cả dự kiến cụ thể về ngày N, giờ G và mục tiêu tiến công, trong khi những ý định thật về những vấn đề này đều được xem như tuyệt mật, chỉ trong Bộ chỉ huy hẹp chúng tôi biết. Việc làm này quả thật có tác dụng, đã gây “nhiễu” trong sự phán đoán của kẻ địch về ta.

Cuộc chiến đấu để tồn tại đã thực sự bắt đầu với những căng thẳng thật riêng, nếu không nói là độc đáo. Trước hết địch có nhiều lợi thế. Còn chúng tôi thì bị dồn vào cái thế khó cựa. vỏ Bo Hong, nơi chúng tôi chấm làm điểm tập kết, làm nơi bám trụ đã chứng tỏ là hoàn toàn chính xác. Cái vút cao, cái bề thế, cái hiểm trở của nó thực sự là chỗ dựa tin cậy của chúng tôi. Nhưng không phải tất cả nơi đây đều là lý tưởng. Kẻ địch đang vây quanh dưới chân núi với một hệ thông căn cứ quân sự và các ấp chiến lược có sẵn nay dăng dầy thêm, hết kẽ hở; chúng âm mưu cắt đứt mọi sự liên hệ của chúng tôi với nhân dân, với địa phương. Việc tiếp nhận lương thực, thực phẩm của nhân dân mang đến bắt đầu có khó khăn, máu đã đổ sau khi gùi được gạo lên các lèn đá để chuyển đi vào hang; đã bắt đầu phải tiết kiệm gạo và nhịn bữa. Vỏ Bo Hong không phải chỉ có chúng tôi mà có cả địch ở xen kẽ dưới dạng thám báo, biệt kích, gây cho chúng tôi không ít khó khăn. Nếu canh gác không tốt, nếu giữ bí mật không nghiêm thì những cái “tai, mắt” này của địch sẽ báo xuống núi, điện về các trận địa pháo, các sân bay là lập tức có địch lên vây, tức thì có pháo bầy bất thần ập đến xối xả hồi lâu. Sẽ có thương vong xảy ra sau đó; có lúc thương binh phải tự mình cấp cứu lấy mình vì không có trạm xá hoặc trạm xá bị đánh sập; có trường hợp tử sĩ phải bó chăn để tạm bên vách đá vì chưa tìm được nơi chôn.

Âm thanh của chiến tranh thật là chua chát, nghe căng óc. Máy bay B.52 cứ đánh đều hai, ba lần trong một tuần, còn pháo tọa độ thì không thành quy luật. Khắp vỏ Bo Hong đều có bom bi, chúng tôi đặt tên là “bom bi râu” vì nó có cấu trúc khác với bom bi thường ở bốn cái râu bằng kim loại mảnh, nối từ thân bom, khi rơi xuống bốn cái râu này căng ra bốn hướng, lẩn vào cây cỏ rất khó thấy vì nó cực nhỏ. Ta đi từ hướng nào cũng gặp râu bom, chạm phải nó chẳng khác nào ta rút dây lựu đạn chày, tức thì gây nổ. Thế là lại có thương vong, phần lớn là vào chân. Những ngày đầu chưa có kinh nghiệm nên số thương vong do “bom bi râu” gây nên chiếm tỷ lệ khá cao. Sau chúng tôi phải hạn chế đi đêm. Thực ra đây cũng là điều bắt buộc, bởi mọi sự đi lại trong ban ngày địch dễ dàng phát hiện, dễ phán đoán sự hoạt động của chúng ta. Kẻ địch quả thật thâm độc, chúng dùng loại bom bi cải tiến này ngoài tác dụng sát thương sinh lực, còn buộc chúng ta phải chuyển hoạt động từ đêm sang ngày, để chúng dễ bề cản phá.

Địch còn đặt máy nghe trộm hoặc cho biệt kích, thám báo lẻn đến các hang, ém sẵn nghe lén các cuộc họp bàn của ta để phá trước khi ta tổ chức triển khai thực hiện. Lúc đầu, ta chưa chú ý đến hoạt động này của địch. Nhưng sau mấy lần xuất kích đều bị địch phát hiện, phá trước khi ta nổ súng, khi đó ta đặt vấn đề nghiên cứu tìm nguyên nhân, từ đấy các cuộc họp đều phải nói thầm, ghé sát vào tai nhau hoặc phải dùng “bút đàm”, có khi phải đi ra khỏi hang một đoạn xa mới trao đổi. Cuộc chiến đấu để tồn tại thật là ác liệt. Nhưng nào đã hết! Mỗi khi đêm về, máy bay địch lại vè vè trên đầu phát loa tâm lý chiến, ca những bài ca nhạc vàng, xen vào là giọng nữ vừa đe dọa vừa nỉ non: các anh cán binh cộng sản, chiến hữu của các anh đã bị quân lực Việt Nam cộng hòa bắt ngày càng nhiều. Khỏi chịu chung số phận tù binh đó, nếu các anh sớm quay về với chính nghĩa quốc gia, các anh sẽ được mọi sự hậu đãi... Chúng gọi tên tùng đơn vị, thậm chí cả tên cán bộ, chiến sĩ để ly gián, gieo rắc nghi ngờ trong nội bộ.

Thời gian lúc này đã là đầu tháng 3. Đã ở vào cuối mùa khô mà nắng nóng vẫn chưa dịu.

Đêm nay như thường lệ, tôi lại lần theo các gộp đá đến các tiểu đoàn để nắm tình hình, bàn công việc cần tiếp tục của công tác chuẩn bị chiến đấu. Bỗng chớp lóe phía trước mặt, liền sau đó là tiếng nổ đanh và kéo dài, đất chuyển rung. Lại một lần nữa gần hơn hất nhào tôi và ba chiến sĩ nữa từ trên cao xuống lòng một khe cạn. Toàn thân tôi đau điếng, tai giữa bị sưng tấy và ù ù. Tôi nằm bất tỉnh. Lúc sau cảnh vật yên tĩnh trở lại, tôi và ba chiến sĩ cũng tỉnh dần nhưng mình mầy như có ai dần, ê ầm. Bốn chúng tôi cô lết tự tìm về trạm xá, vi đêm tối thế này ai biết đâu mà tìm, trong lúc nhiều trận địa và cả trạm xá nữa đang phải tập trung khắc phục hậu quả trận bom B.52 vừa rồi. Gọi là trạm xá, cái tên ấy chỉ có nghĩa trong quy ước chứ nó vẫn chỉ là một cái hang như tất cả các hang khác trên quả núi vỏ Bo Hong này. Không giường chiếu, tất cả thương binh về đây đều tự tìm lấy chỗ đất phẳng mà ngả lưng. Ngoài những thuốc vô trùng và cấp cứu thông thường ra, không có gì hết. Dã chiến mà! Xa thế này làm sao mà đưa bệnh xá, trạm phẫu thuật xuống được. Những ca nặng đều sơ cứu, rồi tìm cách đưa xuống nhân dân chăm sóc. Lại nhân dân, đúng là hoạt động, mọi hiểm nghèo, chúng tôi đều phải dựa vào nhân dân.

Gian khổ vẫn lạc quan. Điều này có ở trong tôi và có ở tất cả những người đang nằm tại đây, họ bị thương sau những đợt vây quét, sau những đợt đánh phá hủy diệt của địch. Có đồng chí còn làm thơ, có khi cả tập thể cùng sáng tác thơ. Góp mỗi người một câu, trong đó có cả tôi. Tôi còn nhớ một bài thơ lục bát không có tên:

Pháp lấy mắt, Mỹ lấy tai
Đánh cho đế quốc cả hai ngã nhào
Tụi bay đừng có tự cao
Thân tao nhỏ bé, chí cao hơn mày
Bị thương chí chẳng lung lay
Còn tim, còn óc, còn bay (ta) đánh hoài
Đánh cho Mỹ phải té nhào
Đừng mong ngó lại mà vào Việt Nam.


Rõ ràng câu chữ thì mộc mạc, vần điệu thì gượng ép, nhưng ngâm lên trong hoàn cảnh ấy đã góp phần khuấy động cái không khí vui tươi, xua đi cái trầm lắng trong trạm xá.

Những giờ phút làm thơ, ngâm thơ ấy quả có sức thôi thúc mọi người. Và riêng tôi thì mong sao chóng lành bệnh để trở về với anh em.

Đêm nằm trong một ngách hang ở trạm xá, tôi cứ trằn trọc hoài không ngủ được. Phần vì lo việc, phần vì vết thương tai giữa vẫn cứ sưng tấy, lúc nào cũng nghe rõ tiếng tim của mình đập. Càng về khuya, càng yên tĩnh thì tiếng ình ình trong tai càng rõ, rất khó chịu, óc như muốn vỡ ra.

Cái ước mong đã đến. Trời đã sáng thật, ánh sáng mờ nhạt lọt qua cửa hang. Tiếng chim kêu vang, thấy bớt lạnh lẽo. Tôi đang định ra cửa hang để hít thở khí tròi thì từ ngoài đó thấp thoáng có bóng người.

- Anh Tư! - Một người đi đầu nói như reo mừng rồi cứ thế đi thẳng đến chỗ tôi.

- Phải tiểu đoàn 7 không? - Tôi vui sướng hỏi.

- Dạ phải! - Đồng chí đi đầu đến sát gần trước mặt tôi trả lời.

Rồi cả tốp, năm người cùng vào theo, họ ngồi quây quần bên tôi, mừng mừng tủi tủi, tranh nhau hỏi, tranh nhau nói.

Lúc này, tôi mới có dịp nhìn rõ những người đang ngồi trước mặt. Tất cả đều là cán bộ chỉ huy của tiểu đoàn. Một tháng vượt kênh và những ngày chiến đấu đầy căng thẳng đế tổn tại đã hằn trên khuôn mặt của từng người, những thoáng nét của mệt mỏi. Tôi không thấy có điều gì trách cứ ở nơi họ mà chỉ trào lên một nỗi cảm thông, yêu mến. Họ cũng như tôi đã ý thức được sâu sắc về nghĩa vụ đối với Tổ quốc, với nhân dân, rất nghiêm chỉnh theo tiếng gọi cứu nước của Đảng, của Bác Hồ kính yêu mà xốc tới nơi đây, không một mảy may suy tính. Họ băn khoăn lo lắng chứ không phải mềm yếu. Họ đến thăm tôi với tình đồng đội sống chết, sướng khổ, vui buồn có nhau; và cũng là để nói chuyện công việc. Họ buồn khi báo tin cho tôi hay là đêm qua bộ phận điều nghiên của tiểu đoàn đã lại không hoàn thành nhiệm vụ. Ba đêm liền mà vẫn không vào được nội đồn, trong khi đại đội trưởng Cư bị thương và đã hy sinh...

Nghe anh em kể, tim tôi đập nhanh, mặt tôi nóng bừng. Tôi cố kìm xúc động của mình và kìm cả giọt lệ thương cảm đang muốn ứa ra! Tôi gượng cười và ôn tồn nói:

- Được, ta sẽ bày keo khác.

- Keo gì hả anh Tư? - Một đồng chí ngồi gần hỏi.

- Tôi sẽ cùng các đồng chí đi điều nghiên.

Tất cả vui sướng reo lên: Thế thì chắc ăn rồi.

Ngay sau buổi gặp gỡ bất ngờ với các cán bộ tiểu đoàn 7 tôi thấy mình như hết mệt. Tôi không nằm nữa mà đi lại trong các ngách hang chật hẹp để rèn luyện, chuẩn bị bước vào chiến đấu.

Lúc này là vào giữa tháng 3. Thời gian của chiến dịch mở vùng mở mảng đến gần. Tình hình trở nên khẩn trương, không thể chậm được nữa. Vì nhiệm vụ chiến đấu của chúng tôi nằm trong kế hoạch chung - đặc công đánh trước, làm nhiệm vụ ngòi nổ, để lực lượng vũ trang địa phương cùng phối họp tiến công, thực hiện bất thần áp đảo địch ngay từ đầu, khiến chúng không kịp trở tay đến khi chúng biết sự việc thì đã rồi, có phản ứng thì đã muộn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn