Bản lý lịch thành câu chuyện truyền miệng
Con đường nhỏ đến nhà ông Hải chạy xuyên rừng, tung bụi mù khoảng trời phía trước. Mỗi người chúng tôi đều hồi hộp vì sắp được tận mắt nhìn thấy người cựu binh và nghe chuyện đời của ông. Nhưng khi nghe chúng tôi gọi tên, ông không nói được mà chỉ đưa bàn tay gân guốc gạt giọt nước mắt ứa ra trên khuôn mặt thẫn thờ.

Bà Bua Khay (56 tuổi, vợ ông Hải) và con rể dìu ông vào phòng khách, nói: “Chồng tôi đã 79 tuổi. Ông không nói được cách đây 6 năm. Năm 1982, chúng tôi cưới nhau nhưng đến nay, tôi chỉ mới hai lần nghe ông Hải nói tiếng Việt. Lần thứ nhất, khi gặp mấy người dân Việt Nam đi săn trầm lạc sang rừng Lào. Lần thứ hai, khi bộ đội quy tập HCLS Việt Nam tìm đến nơi ở của gia đình tôi trên đồi Khỉ Hét”.
Bà Bua Khay tìm lá đơn của ông Hải viết năm 2012 để xin tỉnh Viêng Chăn chế độ trợ cấp. Lá đơn được mẹ con bà xem như một bản lý lịch trích ngang của ông. Dưới đơn có xác nhận của trưởng bản và đóng dấu chính quyền bản Huổi Pa Mạ. Trung tá Hùm Phăn Xỉ Nha Xẻng cho hay: “Lãnh đạo tỉnh Viêng Chăn biết đầy đủ hơn về gần 50 năm chiến đấu, mưu sinh trên đất Lào của ông Hải qua những thông tin này”.
Bản lý lịch trở thành chuyện truyền miệng ở Viêng Chăn: Từ tháng 1 đến đầu tháng 4-1964, đơn vị của ông Hải đánh phỉ Vàng Pao ở các huyện Noọng Hét, Mường Kham, Khăng Khay (tỉnh Xiêng Khoảng); sau đó đánh “cuốn chiếu” (vừa đi vừa đánh) qua các vùng rừng Sẩm Luông (huyện Mường Khùn), Phu Mộc (huyện Loong Chẹng). Cuối tháng 4-1964, đơn vị ông Hải phối hợp với bộ đội Pa-thét Lào đánh chiếm đỉnh Phú Lai, huyện Mường Pẹt (Xiêng Khoảng). Trận đánh khốc liệt khiến đại đội hơn 200 người chỉ còn 32 người. Địch bao vây suốt bảy ngày đêm, thêm 29 người hy sinh. Ông Hải và một người bạn thay nhau bò khắp trận địa tìm đạn của đồng đội để mở đường máu. Cầm cự được 24 giờ đồng hồ thì hết đạn, hai người rút xuống cầu Nậm Xằn dưới chân đồi Phú Lai gặp địch bao vây rồi cả hai bị bắt.
Địch giam ông Hải trong nhà tù Phôn Khênh ở tỉnh Viêng Chăn. Do ông không hé nửa lời nên sau ba tháng, địch chuyển ông sang nhà tù Thạt Đằm khét tiếng cũng ở tỉnh này. Trong lao tù, địch tra tấn không thiếu ngón đòn nào, như: Dùng roi điện dí từ đầu đến chân, dao nhọn chọc mạng sườn, báng súng đánh vào lưng, đá mũi giày đinh vào bụng và dùng dây treo người lên... nhưng ông vẫn không khai. Địch mua chuộc rằng, nếu chịu khai và làm việc cho vua mẹo Vàng Pao thì sẽ được phong trung úy và được trả lương bằng vàng, tương đương 25 triệu kíp/tháng nhưng ông vẫn "ngậm tăm". Đến năm 1972, địch thả ông. Tổng cộng, ông bị địch tù đày 8 năm 6 tháng.
Bà Bua Khay kể: “Năm 1964 khi bị địch bắt giam, chồng tôi đổi tên khai sinh thành Hải vì ông sợ liên lụy về sau. Tên khai sinh của ông là Đặng Văn Uy, sinh năm 1937 ở xóm Lèo, xã Tân Thịnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang”. Đây là lý do khiến người Lào lẫn người Việt ở Viêng Chăn mỗi khi nhắc đến chuyện người cựu binh quê Việt Nam đang sống ở bản Huổi Pa Mạ đều gọi ông là ông Hải.



