BẮN MÁY BAY TRÊN KÊNH 15
Cán Gáo là địa danh có từ lâu đời gắn liền với vùng đất U Minh lịch sử, có rừng tràm trải dài phủ kín từ sông Trẹm đến giáp xã Vân Khánh, đặc trưng của Cán Gáo ngày xưa là cây lá đặc nước mọc phú đầy hai bên bờ kênh rạch nhỏ chẳng chịt tạo ra một địa thế có lợi cho làm căn cứ và hoạt động cách mạng.
Trước năm 1945 Cán Gáo thuộc xã Biển Bạch – Thới Bình – Cà Mau đến năm 1946 mới thuộc xã Đông Hưng – An Biên – Rạch Giá. Ấp có diện tích chung là 1750 ha, phía đông giáp với ấp 11A, phía tây giáp với xã Vân Khánh, phía nam giáp với xã Biển Bạch – Thới Bình – Cà Mau, phía bắc giáp với TT thứ 11. Dân số năm 1946 có hơn 60 hộ gia đình với khoảng 500 khẩu chủ yếu là người Kinh, các tôn giáo có đông tín đồ là Phật giáo và Cao Đài; từ xa xưa họ đã quy tụ về đây kết thành một khối, cùng nhau chung lưng đấu cật khai hoang mở đất, trị thủy, trồng lúa, làm rẫy, đã xây dựng miền đất hoang vu này ngày càng màu mỡ hơn, trù phú hơn.
Trước năm 1945 thực dân Pháp câu kết với giai cấp phong kiến, địa chủ bóc lột nhân dân ta bằng nhiều chính sách khắc nghiệt như thuế thân, thuế phong ngạn, thuế điền, thuế săn chim, thuế vào rừng, thuế thủy lợi, cho vay lãi nặng…v.v. Tình trạng đó đã tạo ra nhiều mâu thuẫn gay gắt giữa nhân dân và thực dân Pháp.
Ngoài chủ điền còn có “chủ đường” chúng cũng là một loại cường hào; thường dựa vào thế lực của địa chủ hoặc phong kiến tay sai của thực dân Pháp để bóc lột người nghèo. Thủ đoạn của chúng là chia nhau độc chiếm từng khu rừng mở đường khai thác lâm sản như gỗ, mật ong, sáp, cá, lông chim…v.v. Ở Cán Gáo cũng vậy, chúng cho đào kênh từ sông Trẹm cách 1 km 1 kênh sau vào rừng để khai thác vô vét tài nguyên, chúng độc quyền trên lĩnh vực mua bán, phân phối các sản phẩm của rừng cũng như các hàng hóa nhu yếu phẩm trong sinh hoạt, đám tang đám cưới do chức sắc tổ chức có mặt chúng làm chủ để tiếp tục vơ vét thêm những đồng tiền còn lại của người nghèo. Các tầng lớp nhân dân oán hận bọn “chủ đường” và đã xảy ra xung đột giữa chủ đường và người làm như vụ ông ba Đen chém chết ba chủ đường Lê Thị Coi ở kênh 21, việc đó đã trở thành một sự kiện sinh động từ tường chống ngoại xâm và bè lũ sai của bà con trong xă nói chung và bà con Cán Gáo nói riêng.
Đến năm 1946 phong trào chống Pháp từng bước lớn mạnh, ấp Cán Gáo đã có Đảng lãnh đạo và xây dựng lực lượng chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài và thật sự địa bàn ấp Cán Gáo lúc này được tạo thành vùng giải phóng vững chắc rất nhiều lần quân xâm lược tổ chức càn quét tiêu diệt (Cộng sản Cán Gáo) nhưng đều vấp phải sự kháng cự quyết liệt của dân, quân ấp Cán Gáo bọn chúng rất khiếp sợ và chúng cũng biết rằng nơi đây là vùng đất bất khả xâm phạm.
Đến năm 1954 từ chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu của quân và dân ta buộc Pháp ngồi vào bàn đàm phán và ký hiệp định Geneve (giơ neo). Từ đây một lần nữa bà con ấp Cán Gáo lại rẽ sang bước ngoặt lịch sử mới ác liệt hơn và gian khổ hy sinh nhiều hơn trước âm mưu, thủ đoạn thâm độc hơn đó là mở đầu cho cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.
Mỹ đã trắng trợn nhảy vào xâm lược nước ta, dung len chính quyền Cần Lao Công giáo Ngô Đình Diệm với nhiều thủ đoạn tàn bạo, mở hàng loạt nhà tù, xây dựng lên hệ thống chính quyền hạ tầng như hành chính trung ương, tỉnh, huyện, xã đến tổ (liên gia) mỗi tổ từ 7-10 gia đình để quản lý thi hành việc tố cộng. Cắt đứt mối quan hệ giữa các lực lượng cách mạng, đây là thời kỳ đen tối nhất đối với lực lượng cách mạng nói chung ở ấp Cán Gáo nói riêng buộc lực lượng và lực lượng kháng chiến phải rút vào hoạt động bí mật và đã có một số cán bộ lần lượt nhiều lý do khác nhau như bị tố giác, bị bắt, bị tù đày tra tấn rất dã man ở các nhà tù như: Khám lớn, Chí Hòa, Đắc Lắc, Ban Mê Thuột, Phú Quốc, Côn Đảo... và đã có một số không liên lạc được với tổ chức những người kháng chiến đã ra đầu hàng bọn địch (trong đó có Đảng viên) theo chú Nguyễn Văn Oai (7 Hưng) cao niên tuổi Đảng ấp Cán Gáo cho biết: Lực lượng cách mạng lúc này gặp đậm cảnh phải lãnh mất và thật sự đau lòng có một chú (xin miễn nêu tên) của ấp có tinh thần lãnh mật chờ móc nối lại với tổ chức đến không còn chịu nổi cùng rã hàng.
Đến năm 1955 tổ chức Đảng xã Đông Hưng bắt đầu xây dựng lại lực lượng chú Nguyễn Văn Oai (7 Hưng) cao niên tuổi Đảng của ấp kể rằng lúc đó có ông Quốc Việt đại diện cho tổ chức Đảng từ Vân Khánh tìm đến và móc nối với chú 6 Kiên, chú 7 ... Hùng, cô Nguyễn Thị Huệ, chú 9 Ban, chú 7 Trung, chú 2 Ít, chú 2 Vinh, chú tư Oanh… và thành lập tổ tam giao hoạt động cách mạng, ban đầu để đảm bảo bí mật cho tổ chức các chú chỉ biết trong tổ ba người và hoạt động theo chỉ thị của trên mốc nối những người hoạt động cách mạng trước đây và giáo dục những người giác ngộ cách mạng để xây dựng tổ chức. Đến năm 1959, tổ chức Đảng được củng cố, các tổ chức quần chúng được phát triển
mạnh, bám chặt dân, hỗ trợ đặt lực cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng.
Đầu năm 1960, Trung ương Đảng đề ra Nghị Quyết 15-NQ/TW khi thế cách mạng của quân và dân ta như cỏ gặp gió. Bấtchấp luật 10/59 của Mỹ - Diệm, nhân dân ta hăng hái gia nhập cáctổ chức cách mạng, kết hợp với lực lượng vũ trang tổ chức diệt ác ôn, trấn áp tề điệp, phá các hình thức kềm kẹp của địch, tập hợp các lực lượng quần chúng phối biến thành lực lượng cách mạng tranh thủ diệt địch giành quyền làm chủ nông thôn.
Khoảng tháng 9 năm 1960, Xứ ủy Nam Bộ chỉ đạo và phát động cuộc đồng khởi trong toàn miền Nam. Theo đó cuộc khởi nghĩa vũ trang trong dân diễn ra với khí thế sục sôi khắp nông thôn, trong đó có ấp Cán Giáo vùng lên diệt ác ôn, phá tan các tổ chức và hình thức kềm kẹp của địch và từ đây ấp Cán Giáo trở thành ấp tranh chấp với địch.
Từ năm 1961–1965, lực lượng du kích ấp được xây dựng, củng cố, phát triển, nhiều lần phối hợp với xã đội, địa phương quân và bộ đội chủ lực tiến bao vây bót rút chỉ khu Hiếu Lễ lần thứ nhất bằng ba mũi giáp công, sau hơn một tháng bao vây, không có quân cứu viện đến ngày 8 tháng 1 năm 1965 địch ở chỉ khu Hiếu Lễ rút chạy về chỉ khu Kiên An (thứ Ba) và các đồn trên sông Xáng Xẻo Rô từ thứ 11 đến thứ 5 chạy theo, huyện An Biên được giải phóng hoàn toàn 5 xã. Địch chỉ còn kiểm soát được đoạn kênh xáng từ thứ 5 đến Xẻo Rô, các ấp chiến lược trên đoạn này cũng mất tác dụng.
Các xã giải phóng của huyện An Biên nối liền với các xã giải phóng của huyện Vĩnh Thuận và U Minh Hạ Cà Mau tạo thành một vùng căn cứ kháng chiến của Miền Tây Nam Bộ. Từ đây ấp Cán Giáo cùng với quần, dân trong xã, huyện bạn, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của cô Nguyễn Thị Huệ phó Bí Thư xã ủy Đông Hưng, chú Lê Văn Tỵ tổ Đảng ấp vận động nhân dân hăng hái xây dựng xã, ấp chiến đấu, phát triển sản xuất, lập vườn nuôi cá, trồng lúa, xây dựng trường học, trạm Y tế, nhà bảo sanh... đời sống nhân dân phát triển, hàng trăm thanh niên tình nguyện tòng quân giết giặc.
Từ năm 1966 đến năm 1969 ấp Cán Giáo vinh dự được đón tiếp các Đồng Chí lãnh đạo của Trung Ương cục Miền Nam, Quân khu 9 và tỉnh Ủy về làm việc như: Đồng Chí Lê Duẩn nguyên Tổng Bí thư Trung Ương Đảng, lúc đó là Bí thư Trung Ương cục miền Nam; Đồng Chí Đại Tướng Lê Đức Anh nguyên Chủ Tịch Nước, lúc đó là tư lệnh quân khu 9; Đồng Chí Võ Văn Kiệt nguyên Thủ Tướng Chính Phủ, lúc đó là Bí thư khu ủy khu 9, các đồng chí tỉnh Ủy và các cơ quan, đơn vị như: Trung đoàn 1; tiểu đoàn 303; 306; 309; thủy đoàn 10; thủy đoàn 61; T70; T80; tiểu đoàn pháo binh, công binh xưởng...
Sau thất bại chiến dịch mùa xuân năm 1968, Mỹ, nguỵ cùng lực lượng lính bảo an, dân vệ mở cuộc hành quân càn quét xã Đông Hưng và các xã lân cận, địch tăng cường bom đạn đến mức “bom chồng bom, đạn cay đạn”. Máy bay B52 dội bom rải thảm xóm Mương Đào; máy bay B57 ném bom rạch Kim Quy và
ngọn Cán Giáo làm tan hoang vườn tược, nhà cửa, làm chết hàng chục người dân vô tội, phần lớn là người già, phụ nữ, trẻ em. Để đánh chứng dùng máy bay trực thăng pha đèn bắn phá nhà dân ở ngọn Cán Giáo chúng mở nhiều đợt hành quân càn quét vào ấp, đoàn để tiêu diệt lực lượng vũ trang, cơ quan lãnh đạo và công binh xưởng của ta. Chúng tái chiếm thứ 11, thành lập căn cứ quân sự Rạng Đông dưới sự hiện diện của sư đoàn 21, sư đoàn 9, thủy quân lục chiến và các đơn vị bảo an thánh hổ, trâu điên... cùng với bom pháo chúng đánh phá rất ác liệt tiêu biểu như trận đánh rạch Mương Điều vào tháng 12 năm 1970, theo chuỗi Nguyễn Văn Oai cho biết: trung đội trinh sát của tiểu đoàn 307 phối hợp với du kích ấp Cán Giáo có anh 2 Liêm, anh 3 Sáy, anh 7 Long, chú 6 Điền làm
nhiệm vụ nắm tình hình đang đóng quân ở rạch Mương Điều, thì đại đội thám báo của chỉ khu Hiếu Lễ hành quân từ kênh 5 sang lọt vào đội hình phục kích của ta, bị ta đánh bất ngờ địch lớp chết, lớp bị thương số còn lại rút sang cúp liếp cùng có đội hình gọi



