Anh hùng Lực lượng vũ trang

Bàn tay cứu người trên tuyến lửa Trường Sơn

Bác sĩ Tạ Lưu sinh năm 1931, tại xã Tương Giang, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là phường Tam Sơn) – vùng đất Kinh Bắc giàu truyền thống văn hiến, nơi câu ca quan họ mượt mà đã nuôi dưỡng tâm hồn bao thế hệ. Lớn lên trong nếp nhà thuần hậu, thấm đẫm tinh thần yêu nước, cậu bé Tạ Lưu sớm hình thành lòng nhân ái, đức hy sinh và khát vọng cống hiến cho Tổ quốc.

Cần Thơ29/01/2026Võ Thị Chúc Mụi (xã đoàn hòa an)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Bàn tay cứu người trên tuyến lửa Trường Sơn

Giữa những năm tháng chiến tranh ác liệt nhất trên tuyến lửa Trường Sơn, có một người thầy thuốc quân y đã để lại dấu ấn sâu đậm bằng lòng dũng cảm, y đức và tinh thần hy sinh quên mình. Đó là bác sĩ Tạ Lưu – người được phong tặng Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân khi mới 38 tuổi, trở thành biểu tượng sáng ngời của ngành quân y Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.

Bác sĩ Tạ Lưu sinh năm 1931, tại xã Tương Giang, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là phường Tam Sơn) – vùng đất Kinh Bắc giàu truyền thống văn hiến, nơi câu ca quan họ mượt mà đã nuôi dưỡng tâm hồn bao thế hệ. Lớn lên trong nếp nhà thuần hậu, thấm đẫm tinh thần yêu nước, cậu bé Tạ Lưu sớm hình thành lòng nhân ái, đức hy sinh và khát vọng cống hiến cho Tổ quốc.

Năm 1947, khi mới 16 tuổi, đất nước chìm trong khói lửa, Tạ Lưu tình nguyện theo học lớp y tá quân đội. Từ một thiếu niên gầy gò nhưng ánh mắt rắn rỏi, ông nhanh chóng trưởng thành trong thực tiễn chiến trường, tham gia phục vụ Chiến dịch Trung – Hạ Lào năm 1953. Giữa lán mổ dã chiến chật hẹp, mùi thuốc sát trùng quyện cùng khói súng, trước những thân thể đồng đội bê bết máu, ông thấu hiểu sâu sắc rằng: con đường người lính quân y là con đường đi cùng sinh tử, nhưng trên hết là trách nhiệm cứu người.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ông được điều về Khoa Phẫu thuật – Viện Quân y 108, nơi hội tụ những thầy thuốc giỏi nhất của quân đội. Với kinh nghiệm thực tế dày dặn, Tạ Lưu nhanh chóng trở thành y tá ngoại vững tay nghề. Nhưng ông không cho phép mình dừng lại. Những đêm trực kéo dài, ông lặng lẽ học tập, ghi chép, nghiên cứu, với tâm niệm:
“Giỏi nghề hơn thì cứu được nhiều người hơn.”

Năm 1962, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông được cử đi học bác sĩ tại Học viện Quân y. Ba năm miệt mài học tập, cuối năm 1965, bác sĩ Tạ Lưu tốt nghiệp và xung phong vào chiến trường, công tác tại Đội điều trị 14 – Tổng cục Hậu cần, trực tiếp phục vụ trên tuyến lửa Trường Sơn.

Tại Trường Sơn, gian khổ vượt xa mọi hình dung. Rừng núi trùng điệp, mùa khô bụi đỏ, mùa mưa lầy lội, suối dữ, muỗi vắt bủa vây. Bom phá, bom bi, bom từ trường của địch cày xới ngày đêm. Đội điều trị 14 phụ trách những trọng điểm ác liệt nhất trên đường 15, đường 12 – nơi chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể phải trả giá bằng mạng sống.

Bệnh viện của họ chỉ là một hầm chữ A, vài tấm ni-lông che mưa, chiếc đèn dầu leo lét và bàn mổ tự chế. Có những ngày bác sĩ Tạ Lưu đứng mổ hơn 10 tiếng liên tục, có những đêm vừa chợp mắt đã phải bật dậy vì tiếng gọi cấp cứu vang lên giữa rừng sâu. Trước mặt ông là những thương binh còn vương đất đỏ Trường Sơn, máu hòa với bùn đất. Ông không bao giờ từ chối bất kỳ ca mổ nào, dù khó khăn đến đâu.

Trong điều kiện thiếu thốn trăm bề, bác sĩ Tạ Lưu cùng đồng đội đã sáng tạo nhiều kỹ thuật phẫu thuật dã chiến: gây mê nội khí quản bằng ống tự chế, truyền máu trực tiếp khi không có dung dịch chống đông, truyền tĩnh mạch ngược chiều… Những sáng kiến ấy đã giành lại sự sống cho hàng nghìn thương binh ngay tại chiến trường.

Giữa rừng sâu hiểm nguy, tình đồng đội càng trở nên thiêng liêng. Có lần, nghe tin một thương binh nặng bị mắc kẹt ở Khe Hổ, nơi hổ dữ rình rập, bác sĩ Tạ Lưu không ngần ngại cùng đồng đội băng rừng, vượt suối tìm cho bằng được. Cuối cùng, họ đưa được thương binh về và cứu sống anh trong gang tấc.

Một kỷ niệm mà bác sĩ Tạ Lưu không bao giờ quên là ca mổ cứu sống đồng chí Nguyễn Văn Khán, Đại đội trưởng pháo cao xạ 37mm, bị đạn pháo xuyên bụng, viêm phúc mạc nặng. Nhận tin lúc rạng sáng, Đội điều trị 14 lập tức cơ động hơn 70km giữa ban ngày, dưới sự oanh kích của máy bay địch. Sau 3 giờ phẫu thuật căng thẳng, bác sĩ Tạ Lưu đã loại bỏ ổ nhiễm trùng, giành lại sự sống cho người chiến sĩ ấy. Ngay sau đó, ông và kíp mổ tiếp tục thực hiện thêm 3 ca mổ khác, làm việc không nghỉ cho đến tận ngày hôm sau.

Với những cống hiến đặc biệt xuất sắc, tháng 6 năm 1969, khi mới 38 tuổi, bác sĩ Tạ Lưu được phong tặng Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Năm 1973, Đội điều trị 14 cũng vinh dự được phong tặng danh hiệu cao quý này.

Sau chiến tranh, ông tiếp tục học tập nâng cao tại Bệnh viện Việt – Đức dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Tôn Thất Tùng, rồi học sau đại học tại Học viện Quân y Kirov (Liên Xô). Trở về nước, ông lần lượt đảm nhiệm các cương vị Chủ nhiệm Khoa Ngoại chung, Viện phó, Viện trưởng Viện Quân y 110. Năm 1993, ông nghỉ hưu với quân hàm Đại tá, khép lại 46 năm tận hiến cho quân đội và nhân dân.

Cuộc đời bác sĩ Tạ Lưu là một đời sống trọn với nghề thầy thuốc, với Tổ quốc và với đồng đội. Từ cậu thiếu niên 16 tuổi bước vào chiến tranh, ông đã trở thành điểm tựa sinh tử của biết bao người lính. Nhắc đến ông, người ta không chỉ nhớ đến một Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, mà còn nhớ đến một người thầy thuốc đã dùng cả trái tim và sinh mạng mình để giữ lại sự sống cho đồng đội giữa mưa bom lửa đạn Trường Sơn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Bàn tay cứu người trên tuyến lửa Trường Sơn | Câu chuyện thời hoa lửa