Bảng nhãn Lương Đắc Bằng và Trị bình thập tứ sách
Bảng nhãn Lương Đắc Bằng và Trị bình thập tứ sách
Trong lịch sử nước nhà, Bảng nhãn Lương Đắc Bằng không chỉ nổi tiếng là một vị quan thanh liêm, chính trực, một người thầy mẫu mực của nhiều quan lại, trí thức đương thời mà còn được biết đến với tư cách là tác giả của Trị bình thập tứ sách - 14 sách lược trị nước mà theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, nếu được thực thi trên diện rộng, rất có thể nhà Lê Sơ sẽ không đi vào giai đoạn suy vong.
Trong lịch sử nước nhà, Bảng nhãn Lương Đắc Bằng không chỉ nổi tiếng là một vị quan thanh liêm, chính trực, một người thầy mẫu mực của nhiều quan lại, trí thức đương thời mà còn được biết đến với tư cách là tác giả của Trị bình thập tứ sách - 14 sách lược trị nước mà theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, nếu được thực thi trên diện rộng, rất có thể nhà Lê Sơ sẽ không đi vào giai đoạn suy vong.Tài liệu để lại cho biết: Lương Đắc Bằng (梁得朋) tên thật là Lương Ngạn Ích, người làng Hội Triều (còn có tên là Hội Trào) xã Trào Âm, tổng Bái Trạch, nay thuộc xã Hoằng Phong, huyện Hoằng Hóa (Thanh Hóa), từ nhỏ đã nổi tiếng thần đồng (Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nhà xuất bản giáo dục, 2007, tr 302-303). Ông sinh năm 1472, sống trong suốt 6 triều vua: Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Lê Túc Tông, Lê Uy Mục, Lê Tương Dực, Lê Chiêu Tông và tham dự triều chính qua 4 triều vua, từ Túc Tông đến Chiêu Tông.
Tượng thờ Lương Đắc Bằng ở xã Hoằng Phong, huyện Hoằng Hóa - (ảnh: Trần Hồng)Trải qua nhiều thập kỷ và đạt đến đỉnh cao thịnh trị thời Lê Thánh Tông, đến đầu thế kỷ XVI, nhà Lê Sơ từng bước suy vong. Uy Mục lên ngôi (năm 1505), “nghiện rượu, hiếu sát, hoang dâm, thích ra oai, tàn hại người tông thất, giết ngầm tổ mẫu, họ ngoại hoành hành, trăm họ oán giận, người bấy giờ gọi là Quỷ vương, điềm loạn đã xuất hiện từ đấy” (Đại Việt sử ký toàn thư, tr.521). Bất bình trước sự sa đọa của Lê Uy Mục, Lương Đắc Bằng đã viết bài Hịch, vạch trần tội quên dân, chỉ chú mục vào hưởng lạc, sống quá xa hoa đồi truỵ của triều đình.
Tranh vẽ Lương Đắc Bằng viết hịch kêu gọi lật đổ vua Lê Uy Mục (nguồn: Baophapluat.vn)Tháng 11 năm Kỷ Tỵ niên hiệu Đoan Khánh thứ năm (năm 1509), Giản Tu Công Lê Oanh trá xưng là Cẩm Giang Vương, dựng cờ chiêu an kéo quân từ Tây Đô về Thăng Long đánh Uy Mục, Lương Đắc Bằng cùng các đại thần đứng ra ủng hộ, đưa Giản Tu công lên làm vua và sau này tôn là Tương Dực đế.Tuy nhiên, kỳ vọng của Lương Đắc Bằng cùng những quần thần, quý tộc chung suy nghĩ với ông về một vị tân vương anh minh đã không được đáp ứng. Tương Dực đế sau thời gian đầu lên ngôi “ban hành giáo hóa, thận trọng hình phạt” đã trượt dài vào con đường chơi bời vô độ, “xây dựng liên miên, dân nghèo thất nghiệp, trộm cướp nổi lên” (Đại Việt sử ký toàn thư, tr.530).Chán nản trước thời cuộc, lấy cớ thân mẫu qua đời, Lương Đắc Bằng đã xin về quê chịu tang mẹ và dự định hưu dưỡng ở quê nhà làm nghề dạy học. Đoán được suy nghĩ của Lương Đắc Bằng, người đứng đầu nhà Lê Sơ đã ra chiếu chỉ triệu hồi ông về triều. Mùa đông tháng 10 năm Canh Ngọ (1510), vua Lê khôi phục cho Lương Đắc Bằng chức Lại bộ Tả Thị lang kiêm Đông các Học sĩ, Nhập thị kinh diên. Lương Đắc Bằng không những từ chối chức tước vua ban mà nhân cơ hội này, ông đã dâng lên Tương Dực đế một bản kế sách trị quốc gồm 14 điểm (Trị bình thập tứ sách).
Tranh vẽ Lương Đắc Bằng dâng Trị bình thập tứ sách (nguồn: Baophapluat.vn)Ông dẫn tích xưa “Bậc thánh nhân thuở trước, không vì thiên hạ đã trị mà lơ là việc cảnh giác ngăn ngừa, người hiền thần đời xưa không vì vua mình đã thánh mà quên lãng niềm khuyên răn, can gián” để khẳng định: “Đế Thuấn nghe lời khuyên mà răn ngừa những việc đáng răn, do đó đã trở thành bậc đại thánh… Văn Đế nghe lời khuyên mà lo nghĩ việc đáng lo, do đó đã trở nên bậc hiền nhân”.Theo Lương Đắc Bằng, kể từ khi Lê Tương Dực lên ngôi, “hoà khí chưa thuận, can qua chưa dứt, kỷ cương triều đình chưa dựng đặt, việc quân, việc nước chưa sửa sang; tai dị xảy ra luôn, sợ đạo trời chưa thuận, núi đá bị sụt lở, e đạo đất chưa yên”. Trước thực tế đó, ông “mỗi khi nghĩ tới việc ngày nay thì suốt đêm không ngủ, đến bữa không ăn, tấm lòng khuyển mã trung thành không sao nguôi được”.Trị bình thập tứ sách của Lương Đắc Bằng có nội dung cụ thể như sau:- Phải cảnh giác, răn ngừa để chấm dứt tai biến,- Dốc lòng hiếu thảo để khuyến khích lòng trung hậu,- Xa thanh sắc để làm chân chính gốc của tâm,- Đuổi tà nịnh để làm trong sạch ngọn nguồn muôn việc,- Dè dặt trao quan tước để thận trọng việc khuyến khích, răn đe,- Tuyển bổ công bằng để đường làm quan trong sạch,- Tiết kiệm tiêu dùng để khuyến khích phong tục kiêm phác,- Khen thưởng người tiết nghĩa để coi trọng đạo cương thường,- Cấm hối lộ để trừ bỏ thói tham ô,- Sửa sang võ bị để vững thế “thành đồng hào nóng”,- Lựa chọn quan can gián để gây khí thế dám nói,- Nới nhẹ việc lao dịch để thoả lòng mong đợi của dân,- Hiệu lệnh phải tín thực để thống nhất ý chí của bốn phương,- Luật pháp, chế độ phải thận trọng để mở nền thịnh trị thái bình.
Tượng thờ Lương Đắc Bằng ở xã Hoằng Phong, huyện Hoằng Hóa - (ảnh: Trần Hồng)Trải qua nhiều thập kỷ và đạt đến đỉnh cao thịnh trị thời Lê Thánh Tông, đến đầu thế kỷ XVI, nhà Lê Sơ từng bước suy vong. Uy Mục lên ngôi (năm 1505), “nghiện rượu, hiếu sát, hoang dâm, thích ra oai, tàn hại người tông thất, giết ngầm tổ mẫu, họ ngoại hoành hành, trăm họ oán giận, người bấy giờ gọi là Quỷ vương, điềm loạn đã xuất hiện từ đấy” (Đại Việt sử ký toàn thư, tr.521). Bất bình trước sự sa đọa của Lê Uy Mục, Lương Đắc Bằng đã viết bài Hịch, vạch trần tội quên dân, chỉ chú mục vào hưởng lạc, sống quá xa hoa đồi truỵ của triều đình.
Tranh vẽ Lương Đắc Bằng viết hịch kêu gọi lật đổ vua Lê Uy Mục (nguồn: Baophapluat.vn)Tháng 11 năm Kỷ Tỵ niên hiệu Đoan Khánh thứ năm (năm 1509), Giản Tu Công Lê Oanh trá xưng là Cẩm Giang Vương, dựng cờ chiêu an kéo quân từ Tây Đô về Thăng Long đánh Uy Mục, Lương Đắc Bằng cùng các đại thần đứng ra ủng hộ, đưa Giản Tu công lên làm vua và sau này tôn là Tương Dực đế.Tuy nhiên, kỳ vọng của Lương Đắc Bằng cùng những quần thần, quý tộc chung suy nghĩ với ông về một vị tân vương anh minh đã không được đáp ứng. Tương Dực đế sau thời gian đầu lên ngôi “ban hành giáo hóa, thận trọng hình phạt” đã trượt dài vào con đường chơi bời vô độ, “xây dựng liên miên, dân nghèo thất nghiệp, trộm cướp nổi lên” (Đại Việt sử ký toàn thư, tr.530).Chán nản trước thời cuộc, lấy cớ thân mẫu qua đời, Lương Đắc Bằng đã xin về quê chịu tang mẹ và dự định hưu dưỡng ở quê nhà làm nghề dạy học. Đoán được suy nghĩ của Lương Đắc Bằng, người đứng đầu nhà Lê Sơ đã ra chiếu chỉ triệu hồi ông về triều. Mùa đông tháng 10 năm Canh Ngọ (1510), vua Lê khôi phục cho Lương Đắc Bằng chức Lại bộ Tả Thị lang kiêm Đông các Học sĩ, Nhập thị kinh diên. Lương Đắc Bằng không những từ chối chức tước vua ban mà nhân cơ hội này, ông đã dâng lên Tương Dực đế một bản kế sách trị quốc gồm 14 điểm (Trị bình thập tứ sách).
Tranh vẽ Lương Đắc Bằng dâng Trị bình thập tứ sách (nguồn: Baophapluat.vn)Ông dẫn tích xưa “Bậc thánh nhân thuở trước, không vì thiên hạ đã trị mà lơ là việc cảnh giác ngăn ngừa, người hiền thần đời xưa không vì vua mình đã thánh mà quên lãng niềm khuyên răn, can gián” để khẳng định: “Đế Thuấn nghe lời khuyên mà răn ngừa những việc đáng răn, do đó đã trở thành bậc đại thánh… Văn Đế nghe lời khuyên mà lo nghĩ việc đáng lo, do đó đã trở nên bậc hiền nhân”.Theo Lương Đắc Bằng, kể từ khi Lê Tương Dực lên ngôi, “hoà khí chưa thuận, can qua chưa dứt, kỷ cương triều đình chưa dựng đặt, việc quân, việc nước chưa sửa sang; tai dị xảy ra luôn, sợ đạo trời chưa thuận, núi đá bị sụt lở, e đạo đất chưa yên”. Trước thực tế đó, ông “mỗi khi nghĩ tới việc ngày nay thì suốt đêm không ngủ, đến bữa không ăn, tấm lòng khuyển mã trung thành không sao nguôi được”.Trị bình thập tứ sách của Lương Đắc Bằng có nội dung cụ thể như sau:- Phải cảnh giác, răn ngừa để chấm dứt tai biến,- Dốc lòng hiếu thảo để khuyến khích lòng trung hậu,- Xa thanh sắc để làm chân chính gốc của tâm,- Đuổi tà nịnh để làm trong sạch ngọn nguồn muôn việc,- Dè dặt trao quan tước để thận trọng việc khuyến khích, răn đe,- Tuyển bổ công bằng để đường làm quan trong sạch,- Tiết kiệm tiêu dùng để khuyến khích phong tục kiêm phác,- Khen thưởng người tiết nghĩa để coi trọng đạo cương thường,- Cấm hối lộ để trừ bỏ thói tham ô,- Sửa sang võ bị để vững thế “thành đồng hào nóng”,- Lựa chọn quan can gián để gây khí thế dám nói,- Nới nhẹ việc lao dịch để thoả lòng mong đợi của dân,- Hiệu lệnh phải tín thực để thống nhất ý chí của bốn phương,- Luật pháp, chế độ phải thận trọng để mở nền thịnh trị thái bình.


