Bảng nhãn Nguyễn Mẫn Đốc – nhân vật lịch sử đời vua Lê Chiêu Tông (1516-1522)
1. Nguyễn Mẫn Đốc - Gương sáng về nghiệp học
Từ nhiều trăm năm nay đã có không ít sách, báo, bài viết và tư liệu lưu trữ về Bảng nhãn Nguyễn Mẫn Đốc, người họ Tam Sơn - Tiết Nghĩa, quê làng Dòng, xã Xuân Lũng, huyện Sơn Vi, nay là huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống thi thư, lễ nghĩa thuộc họ Nguyễn Tam Sơn ở xã Xuân Lũng, một làng khoa bảng danh tiếng trên vùng đất trung du mà sau ngót mười thế kỷ phát triển của nho học đã sản sinh ra 205 người đỗ đạt theo các thứ bậc khác nhau, trong đó có 4 đại khoa là Tiến sĩ (TS) Bùi Ứng Đẩu, TS Nguyễn Doãn Cung, Hoàng giáp Nguyễn Chính Tuân, Bảng nhãn Nguyễn Mẫn Đốc, 21 trung khoa (17 giám sinh, 4 cử nhân), 122 tiểu khoa (113 sinh đồ, 9 tú tài), số còn lại là nho sinh 12 người, quan chức 8 vị (1 tri phủ, 2 tri châu, 5 tri huyện).
Phụ thân của Nguyễn Mẫn Đốc là Nguyễn Doãn Cung đỗ Tiến sĩ năm Kỷ Sửu, niên hiệu Quang Thuận thứ 10 (1469), đời vua Lê Thánh Tông. Nguyễn Doãn Cung là một trong những quan đầu triều có tài trong lĩnh vực đối ngoại nên được triều đình đương thời cử đi sứ sang nhà Minh vào năm Kỷ Dậu (1489), mùa đông, tháng 10, ngày 19 cùng các bồi thần Bùi Xương Trạch, Nguyễn Hán Đình (1). Ông cũng là người được vua Lê Thánh Tông cử đi đón đoàn sứ thần của nhà Minh sang sách phong vua nước ta làm An Nam Quốc vương năm Kỷ Mùi (1499) “trước ấy, mồng 9 tháng ấy, cùng Binh bộ Thượng thư Cống xuyên bá Lê Năng Nhượng, Thiếu bảo Trịnh Công Đán... lên địa cầu nước ta để ứng tiếp bọn Lương Trừ, Từ Ngọc theo như lệ cũ” (2).

Tiết nghĩa từ (Đền thờ Bảng nhãn Nguyễn Mẫn Đốc) tại xóm Chùa, xã Xuân Lũng, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
Sớm có tư chất thông minh hơn người, lại có chí theo nghiệp học nên trong khoa thi năm Mậu Dần, niên hiệu Quang Thiệu 3, đời Lê Chiêu Tông (1518), Nguyễn Mẫn Đốc đã đậu Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ nhị danh (Bảng nhãn), tức là lọt vào nhóm Tam khôi cùng Ngô Miễn Thiệu (Trạng nguyên), Lưu Khải Chuyên (Thám hoa). Các sách Đăng khoa lục ghi ông đỗ năm 21 tuổi. Trùng thuyên bi ký, một trong ba tấm bia khoa bảng dựng năm 1793 đặt ở Văn chỉ làng Dòng cho biết ông đoạt được học vị Bảng nhãn năm 21 tuổi. Sự thông minh khác thường của Nguyễn Mẫn Đốc còn được kiểm chứng qua một giai thoại ông về Trình mượn thầy học bộ Bắc sử để luyện thi, không ngờ trên đường về nhà đã nhập tâm hết cả cuốn sách, bèn vội đáo lại trả thầy và được thầy hết lời khen là sáng dạ.

Khu minh đường.
Như vậy, hai cha con Nguyễn Doãn Cung và Nguyễn Mẫn Đốc cùng kế thế đăng khoa. Nguyễn Mẫn Đốc là người giành được học vị cao nhất, không chỉ đối với làng xã mà còn với cả tổng thời ấy. Đây là một vinh dự hiếm hoi của dòng họ Nguyễn Tam Sơn và của địa phương.
2. Nguyễn Mẫn Đốc - Gương sáng trung thần Tiết Nghĩa
Sự kiện Bảng nhãn Nguyễn Mẫn Đốc vì phù Lê, diệt Mạc mà tuẫn tiết được các tài liệu lưu trữ đương thời ghi nhận chính xác đến từng chi tiết và về cơ bản là thống nhất. Theo chính sử, năm 1527, Mạc Đăng Dung đã tiếm ngôi nhà Lê. Con người xuất thân võ bị này thi đỗ Đệ nhất Đô lực sĩ, làm quan nhà Lê đến chỉ huy sứ, mỗi ngày một mở rộng thanh thế, nhân lúc nhà Lê suy yếu đến bước tận cùng bèn trở mặt soán nghịch, dựng nên vương triều Mạc. Vua Lê Chiêu Tông dời kinh thành, chịu long đong ở Bảo Châu, thảo tờ mật chiếu gửi các đại thần, các công khanh và các sĩ phu, coi như Hịch Cần vương, lời lẽ thật khẩn thiết: “Trung thần nghĩa sĩ, thủ chính trú hành; kỳ sinh, dã vinh, kỳ tử dã linh” - Hỡi các bậc tôi trung, quân nghĩa, hãy vì lòng ngay giữ lấy thành trì. Lúc sống vinh, lúc chết được thiêng”. Khi đó Bảng nhãn Nguyễn Mẫn Đốc đã từ bỏ mọi vinh hoa phúc lộc dành cho một đại thần cùng Trạng nguyên Vũ Duệ và môn đồ Nguyễn Hoán gặp nhau. Không đầy 3 ngày sau, ba trăm nghĩa binh đã được chiêu mộ. Tiếp đó là lễ tế cờ, giết trâu, bò khao thưởng quân sĩ. Vì biết lực lượng nhỏ bé khó địch nổi quân Mạc Đăng Dung, mọi người cùng nhau xuất binh, lên đường tìm theo Vua Lê Chiêu Tông.
Một buổi tối, trong một quán trọ dọc đường, nhiều binh sĩ nhớ nhà, thoái chí, muốn bỏ về liền bị Nguyễn Mẫn Đốc lớn tiếng mắng: "Loài chó lợn (3) không thể cùng sống với người ! Nào ai cấm đoán đâu ! Hãy mau về nhà mà hưởng phú quý !". Sáng hôm sau, tất cả lại lên đường tìm về Bảo Châu. Được nửa đường thì có tin nhà vua đã đi Mộng Sơn (4) và cũng đang lo chiêu tập binh mã. Tiếp đến là tin vua đã chạy vào Thanh Hoa. Thầy trò Nguyễn Mẫn Đốc dẫn đoàn nghĩa sĩ đi thẳng vào Thanh Hoa. Sau bao hành trình vất vả vua tôi mới gặp nhau ở Lạc Thổ (5). Còn Mạc Đăng Dung khi biết vua Lê Chiêu Tông chạy vào Thanh Hoa bèn cử tướng Phạm Trung Lập và cha con tướng Vương Văn Chấp (6) đem binh mã tức tốc truy bức. Xảy ra giao chiến lớn ở Cẩm Thủy (7). Nhờ mưu trí và lòng dũng cảm của tướng Lê Duy Hàn (8) và của thầy trò Nguyễn Mẫn Đốc, vua Lê Chiêu Tông đã thoát khỏi vòng vây của quân Mạc và lui về rừng núi huyện Lương Sơn (9). Tại đây, họ lại phải tử chiến với Phạm Trung Lập. Lê Duy Hàn ở đoạn hậu vượt lên kịp ứng cứu. Thầy trò Nguyễn Mẫn Đốc lại tiếp tục hộ giá nhà vua.

Nội tự Đền thờ.
Dương Chấp Nhất được tin Phạm Trung Lập thất bại liền đuổi theo, hợp với tàn binh trước, tấn công mạnh thầy trò Nguyễn Mẫn Đốc. Lực lượng ít, lại gặp cường địch nên Nguyễn Mẫn Đốc vừa phải chống trả vừa lui quân. Vua tôi vì vậy mà lạc nhau. Đến được địa phận Lam Sơn thì các nghĩa sĩ bị tử thương đã nhiều trong khi quân Mạc còn dư sức. Vũ Duệ bèn rút gươm chỉ lên trời mà hét to: “Ta liều thân để đáp đền nợ nước. Nhưng than ôi, sức cùng, lực tận rồi !”. Nói đoạn, cả hai thầy trò sửa mũ áo cùng hướng về Lăng Thái Tổ mà bái lạy rồi tự vẫn...
Theo tiến sĩ Nguyễn Hữu Mùi thì trong lịch sử khoa cử Việt Nam các triều đại phong kiến luôn coi trọng ngạch văn hơn nghạch võ. Trong cuốn Truyền thống hiếu học và hệ thống Văn miếu, Văn từ, Văn chỉ ở Vĩnh Phúc, do ông viết và Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc, xuất bản năm 2011, ông đã đưa ra một nhận định thỏa đáng: "Một điều tưởng như nghịch lý nhưng lại được cả xã hội chấp nhận là các vương triều quân chủ Việt Nam thời độc lập tự chủ đều do những người giỏi võ khởi dựng, còn khi điều hành đất nước, lại phải coi trọng ngạch văn, tức phải sử dụng đội ngũ văn quan để cai trị đất nước" (tr. 144). Trước khi nhà Lê thiết lập Võ học sở, tức trường Võ học ở Thăng Long, năm 1721, thì suốt cả một thời kỳ dài việc tuyển chọn người tài trong quân đội chỉ được thông qua hình thức tuyển cử hoặc khảo hạch. Quan niệm chính thống cho rằng, trong một xã hội bình yên dưới chính chế tốt đẹp của một vương triều không thể thiếu văn được.
Bảng nhãn Nguyễn Mẫn Đốc cũng là một văn quan.
3. Công trạng của Bảng nhãn Nguyễn Mẫn Đốc đã được các thời đại nhìn nhận và đánh giá thế nào?
Sau khi đậu Bảng nhãn, ngoài việc được bổ nhiệm ngay vào chức vị cao trong triều, Nguyễn Mẫn Đốc, theo lệ, còn được cấp 18 mẫu đất thế nghiệp để dùng riêng và thu tô từ 130 đến 300 mẫu chi phí ngoài lương bổng, phần này gọi là lộc điền. Đó là chưa kể các đặc ân khác. Như vậy, từ xa xưa, nhà nước phong kiến Việt Nam đã coi việc đạt được những thành tựu cao trong lĩnh vực khoa cử cũng có thể sánh ngang với những cống hiến trên mọi lĩnh vực xã hội khác. Một sự thừa nhận phân minh, mang tính nhân văn rõ rệt và có ý nghĩa thực tiễn lâu dài.
Không nên quên rằng, triều Lê Trung Hưng trong điều kiện nhà Mạc đang rất mạnh, không dễ lật ngược thế cờ. Bởi vậy, giải pháp hữu hiệu trước mắt là phải tập hợp lực lượng, giương cao ngọn cờ phù Lê, diệt Mạc. Ngày nay, việc tìm kiếm hài cốt những anh hùng, liệt sĩ đã thất lạc để quy tập về các nghĩa trang và giải quyết chế độ, chính sách đối với những cá nhân, những gia đình có công đối với Tổ quốc đã trở thành nét đẹp trong đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta. Nhưng ở thế kỷ XVI, thời kỳ đầy nhiễu nhương, tao loạn, việc nhà Lê sớm tiến hành tổng rà soát lại danh tính những trung thần, nghĩa sĩ đã tận trung, tận hiếu trước sự tồn vong của mình để đền ơn, đáp nghĩa, như cách nói đời nay, hẳn phải được coi là một chủ trương sáng suốt và hợp lòng người ? Không gì khác, đó chính là nghệ thuật thu phục nhân tâm. Bảng nhãn Nguyễn Mẫn Đốc là một trong 13 bề tôi có công theo vua Lê mà tiết nghĩa được truy phong Tiết Nghĩa Đại Vương, thụy Nhã Lượng. Năm 1667 (Đinh Mùi), đời Cảnh Trị thứ 5, niên hiệu vua Lê Huyền Tông, cho phép lập "Tiết Nghĩa từ" ở quê hương, xuân thu nhị kỳ, gia ban quốc tế - chủ tế phải người nhà nước mới xứng tầm. Đây cũng là lúc triều Mạc Kinh Vũ, triều vua cuối cùng của nhà Mạc tan rã. Tên Nguyễn Mẫn Đốc được ghi vào bia đề danh tiến sĩ khoa Mậu Dần, niên hiệu Quang Thiệu 3 đặt ở Quốc Tử Giám (bia số 13). Hài cốt của ông được liệm trong quan, ngoài quách đồng, cho rước về quê táng tại một quả đồi ở xóm Lũng Bô. Còn được dựng Lăng miếu thờ theo kiểu thờ một vương tước, vì thế nơi ấy có tên là Rừng Lăng (Lăng nghĩa gốc là đồi đất lớn). Đôi câu đối tương truyền vua ban được lưu truyền trong dòng họ và làng xã một thời: "Tảo tuế khôi khoa thiên hạ hữu - Trung thần tiết nghĩa thế gian vô - Đỗ đạt sớm thì thiên hạ có người - Ít tuổi mà tiết nghĩa thế gian không có ai". Xã chí Xuân Lũng, bản chữ Hán và quốc ngữ hiện còn lưu giữ ở Viện nghiên cứu Hán Nôm, do lý trưởng Nguyễn Liên, tiên chỉ Lê Như Bách và trưởng bạ Nguyễn Viết Đạo thị thực, ký tên và áp triện năm 1943, còn ghi lại đôi câu đối: "Thần trung tử hiếu cương thường tại - Địa hiếu thiên lưu tiết nghĩa trường" - ý rằng, bề tôi trung, con cháu hiếu thảo, cương thường còn, tiết nghĩa bền. Sách Tam khôi bị lục của Hồ Ngu Thụy, dịch giả Nguyễn Hữu Tùng, Bộ Giáo dục Trung tâm học hiệu Sài Gòn, 1968, gọi ông là "Thiếu niên kim tiết" (tuổi trẻ mà khí tiết như vàng). Các triều vua nối tiếp nhau đều có sắc phong cho Bảng nhãn Nguyễn Mẫn Đốc, tất cả là 10 đạo, bản gốc hiện vẫn còn được cất giữ tại đền thờ ông. Ông được phong Thành hoàng làng Xuân Lũng, Thượng đẳng phúc thần, một nhân thần bên cạnh thiên thần Thành hoàng Cao Sơn Đại Vương. Một số làng xã trong bản huyện cũng tôn ông làm Thành hoàng làng mình. Vinh dự cao quý ấy, lấy gì đo được ?
Trùng thuyên bi ký khi bàn về ông có bài tán:
Khoa bảng đỗ đầu
Theo vua tiết nghĩa
Sinh tử đều vinh
Cương thường giữ trọn.
Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân Hà Nhậm Đại (10), niên hiệu Sùng Khang 9 (1574) đã có thơ khen Nguyễn Mẫn Đốc in trong tập Khiếu vịnh thi tập (viết về 91 nhân vật lịch sử thời Lê) (bản dịch):
Ách tao dương cửu lệ phù nguy
Sư huấn vô vong hoạn nạn thì
Tiếu sát dương biên chư khuyển bối
Thao thao phú quy quả hà vi
Tư tại tam sinh đồng vãn lạc
Nghĩa đồ nhất tử đáp chu ty
Tiết thanh lương thủy lưu trường tại
Danh tại Lam Sơn thạch bất di.
Dịch:
Nhà vua gặp nạn quyết phò nguy
Hoạn nạn, lời thầy vẫn nhớ ghi
Quán trọ mắng ngay phường chó lợn
Bo bo danh lợi ấy mà chi
Nhớ lúc ba sinh niềm vui cuối
Nghĩa vì một chết để làm ghi
Tiết trong, nước bạc lưu muôn thủa
Tên ở Lam Sơn, đá chẳng đi.

Khu Lăng mộ tại Rừng Lăng, xóm Lũng Bô, xã Xuân Lũng, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
Hơn ai hết, Bảng nhãn Nguyễn Mẫn Đốc thấm sâu nguyên tắc đạo đức của nho gia gồm tam cương là ba đạo vua tôi, cha con, vợ chồng và ngũ thường là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Theo nhà bác học Lê Quý Đôn, đó là rường cột giữ trời đất, là cột đá yên vững nhân dân... từ xưa tới nay chưa có ai từ bỏ điều đó mà có thể đứng vững trong trời đất. Vua, Thầy và Cha là ba bậc mà Bảng nhãn Nguyễn Mẫn Đốc phải phụng thờ như một. Ông là người chịu ảnh hưởng giáo dục về nhiều mặt của gia đình và dòng họ mà thân phụ Nguyễn Doãn Cung là tiêu biểu. Bị vướng trong cái lưới Khổng giáo, ông không thể không lấy tu thân làm gốc, có cái gốc ấy mới mong tề gia, bình thiên hạ. Ông đã tự vượt lên, bứt ra khỏi cái lưới bủa của "lễ", một cái đức bên trong của ngũ thường để mà hành đạo. Mở rộng quan hệ cha con, anh em, từ phạm vi nhà ra đến phạm vi cả nước. Thử nghe Tăng Sâm, một trong bốn Á Thánh phối thờ cùng Khổng Tử ở Văn chỉ làng Dòng xưa, đã viết trong cuốn Đại học: "Hiếu là để phụng sự vua đây, đễ là để phụng sự bề trên đây". Xả thân vì vua, Bảng nhãn Nguyễn Mẫn Đốc đã tỏ rõ lòng trung quân ái quốc của mình, chứng minh sự hết lòng phụng sự bề trên của mình, đưa lại vinh quang đời đời cho gia tộc, cho quê hương bản quán. Đấy chính là điểm ngời sáng trong phẩm chất tính cách của một con dân, hơn thế, của một đấng trung thần hiếm gặp. Sắc ban cho lập "Tiết Nghĩa từ" chính là nhằm tôn thờ lòng yêu nước của ông, một vấn đề còn nguyên ý nghĩa thời sự đối với chúng ta.




Một số Sắc phong cho Bảng nhãn Nguyễn Mẫn Đốc qua các triều Vua.
Xưa đã vậy, huống nữa là bây giờ, khi mà tình hình thế giới và khu vực đang có những diễn biến phức tạp, đe dọa đến sự an nguy của nước nhà thì vấn đề chăm lo giáo dục lòng yêu nước cho toàn dân, nhất là cho thế hệ trẻ, càng phải được đặt lên hàng đầu trong mọi nghĩa vụ đối với non sông, đất nước. Nhà thơ Ngọc Bái trong trường ca Lời cất lên từ đất, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, năm 2000, viết về cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930, có câu thật tâm đắc: "Lòng yêu nước không bao giờ là cũ - Là hành trang nặng gánh với thời gian".
Xung quanh việc Nguyễn Mẫn Đốc tuẫn tiết không phải không có những ý kiến đáng để suy ngẫm: "Ví thử trong triều nhà Lê có người nào có nghĩa khí, ra sức với nhà Lê, giết kẻ phản nghịch, ngăn việc hung ác để trị tội kẻ bạn thần thì việc khôi phục xã tắc vẫn có thể làm được, sao lại cam tâm giữ chức, nương tựa sủng lộc, để tạm hưởng phú quý, mong được khỏi chết ?" (11). Toàn thư phê phán những kẻ cầu an, gió chiều nào che chiều ấy. Dưới triều đại phong kiến, đề cao tinh thần yêu nước là đề cao lòng trung quân, ái quốc. Yêu nước là trung với vua, vì vua là đại diện cho một nước. Bác Hồ đã dạy: "Trung với Đảng, hiếu với dân". Nội dung về cơ bản là một, khác chăng là ở cách diễn đạt mang đậm dấu ấn thời đại. Hành động của Bảng nhãn Nguyễn Mẫn Đốc là một nghĩa cử cao đẹp, pha chút hiệp sĩ, hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể lúc ấy và được công luận tán thưởng. Chính Vũ Duệ cũng vì không chịu ăn lộc nhà Mạc đã đeo quả ấn ngự sử đâm đầu xuống cửa bể Thần Phù mà quyên sinh, được phong "Bề tôi Tiết Nghĩa", để lại hình ảnh bất tử về một kẻ sĩ "chết là thể phách, còn là tinh anh" (Nguyễn Du). Còn có Nguyễn Hãng, nhà văn, tác giả hai bài phú nổi tiếng Tịch cư ninh thể và Đại Đồng phong cảnh, một Cao sĩ tiết tháo đã dứt khoát từ chối lời mời hợp tác của nhà Mạc, lên Đại Đồng khắc khoải tìm minh chủ, được nhà Lê ban hiệu "Thảo Mao Dật Sĩ" - người học trò ẩn dật dưới mái lều tranh và truy phong Tiết Nghĩa. Dật Sĩ Từ, đền thờ ông ở xóm Chùa đã được xây cất mới, khang trang hơn, tương xứng với vị trí của ông hơn. Hoàng giáp Nguyễn Chính Tuân cũng đã vì phù Lê mà từ quan về quê Xuân Lũng, lui vào núi Anh Đài, sơn ải dưỡng kỳ nuôi chí lớn phù Lê và cũng được triều đại nhà Lê truy phong Tiết Nghĩa. Có thể nói đấy là những mẫu người đặc biệt của một thời đại đặc biệt với nhiều biến động khác thường đã có ảnh hưởng sâu sắc tới triết lý sống cũng như hành động của một thế hệ và đã để lại cho đời sau những bài học nhân sinh sâu sắc, tưởng cũng nên tiếp tục nghiên cứu và làm sáng tỏ thêm. Đâu phải ngẫu nhiên dòng họ Nguyễn Mẫn … ở Xuân Lũng được vua ban cho đổi sang họ Nguyễn Trung ? Con cháu trong họ hôm nay hỏi mấy ai quan tâm đến vinh hạnh có một không hai này ?

Bằng xếp hạng Di tích cấp quốc gia, Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch
ký ngày 28 tháng 01 năm 2015 về việc xếp hạng di tích cấp quốc gia, Đền thờ Nguyễn Mẫn Đốc.
Quyết định số 226/QĐ-BVHTTDL và Bằng xếp hạng Di tích cấp quốc gia ngày 28 tháng 01 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch về việc xếp hạng di tích cấp quốc gia Đền thờ Nguyễn Mẫn Đốc một lần nữa công trạng to lớn của Bảng nhãn Nguyễn Mẫn Đốc được nhìn nhận, khẳng định qua các thời đại.


