Bảo đảm vũ khí kỹ thuật cho Chiến dịch Thượng Lào
Chiến dịch Tây Bắc (14/10 - 10/12/1952) thắng lợi không những mở ra cho ta thế tiến công chiến lược trên chiến trường mà còn tạo ra những điều kiện mới cho sự hiệp đồng tác chiến giữa quân và dân Lào - Việt Nam. Vì vậy, ngày 3/2/1953, ta và Lào quyết định phối hợp mở Chiến dịch Thượng Lào nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai, xây dựng và mở rộng khu căn cứ địa, tạo lập hậu phương kháng chiến, thúc đẩy cuộc kháng chiến ở Lào, phá thế bố trí chiến lược của địch ở Bắc Đông Dương. Trong
Tham gia Bộ chỉ huy Chiến dịch, phía Lào có các đồng chí Xu-pha-nu-vông, Cay-xỏn Phôm-vi-hản và đồng chí Thao Ma Thảy Khăm-phi-thun (Bí thư Tỉnh ủy Sầm Nưa). Phía Việt Nam có Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Chỉ huy trưởng), Nguyễn Chí Thanh (Chủ nhiệm Chính trị), Hoàng Văn Thái (Tham mưu trưởng), Trần Đăng Ninh (Chủ nhiệm Cung cấp) và đồng chí Nguyễn Khang đặc trách công tác ở chiến trường nước bạn.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (người thứ 3 từ trái sang), Hoàng thân Xuphanuvông (người thứ 4 từ trái sang) và các cán bộ quân đội Việt Nam - Lào bàn kế hoạch mở chiến dịch Thượng Lào, năm 1953. (Ảnh tư liệu)
Để bảo đảm vũ khí trang bị kỹ thuật, lương thực, thực phẩm cho chiến dịch, ngay từ tháng 1/1953, Trung ương Đảng và Chính phủ ta quyết định thành lập Hội đồng cung cấp mặt trận. Việc vận chuyển vũ khí đạn cung cấp cho các đơn vị tham gia Chiến dịch Thượng Lào khó khăn, đường vận chuyển xa, chủ yếu trên địa hình rừng núi, qua nhiều đèo, sông, suối… Trước yêu cầu của chiến dịch, Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh điều Trung đoàn Công binh 151 làm đường và bắc cầu bảo đảm cho các lực lượng hành quân.
Trong khi khối lượng dự kiến là rất lớn, khoảng 6.540 tấn (trong đó có 5.990 tấn gạo, 190 tấn vũ khí đạn)[1], thời gian hoàn thành công tác chuẩn bị là cuối tháng 3/1953, do vậy hậu cần chiến dịch phải chuẩn bị vật chất từ xa, khi bộ đội hành quân mới chuyển gạo, đạn và đưa lực lượng bảo đảm đi cùng. Trên hướng chính Sầm Nưa yêu cầu phải có 130 tấn vũ khí, hướng Xiêng Khoảng là 60 tấn vũ khí. Bộ Tổng Tư lệnh quyết định thành lập Ban Quân khí tiền phương do đồng chí Phan Tử Lăng, Cục phó Cục Quân khí phụ trách. Trong quá trình đó, ta lập kho dự trữ ở Mộc Châu. Khi bộ đội hành quân thì chuyển tiếp 60 tấn vào Sốp Bao. Để bảo đảm đủ số lượng, đúng thời gian, Cục sử dụng số đạn còn lại của Chiến dịch Tây bắc, đồng thời chuyển từ các kho ở Việt Bắc và Liên khu 3-4. Vũ khí trước khi xuất kho đều được kiểm tra chất lượng và phân loại. Các kho quân khí đóng hàng thành các hòm, ghi rõ ký hiệu từng loại để thuận tiện cho vận chuyển và cấp phát.
Việc vận chuyển vũ khí đạn cung cấp cho Mặt trận Thượng Lào gặp nhiều khó khăn do đường xa, địa hình rừng núi, qua nhiều đèo dốc, sông, suối nên phải kết hợp vận chuyển bằng nhiều loại phương tiện: ô tô, thuyền, mảng, xe đạp thồ, ngựa, voi và dân công gồng gánh. Bộ đội phải tự mang súng, đạn bộ binh, tuyến vận tải chỉ vận chuyển đạn hỏa lực, đạn trợ chiến, khoảng 70 tấn cho hướng chính. Để giảm bớt việc khiêng vác cho dân công và bộ đội, quân khí Trung đoàn 675 đã cho tháo từng khẩu sơn pháo 75 cho lăn bánh xe đi đường bộ, thân pháo được tháo rời các bộ phận cho xuống thuyền để vận chuyển theo Sông Đà lên Mộc Châu, mỗi thuyền chở được 4 khẩu, nhờ vậy hai tiểu đoàn sơn pháo 75 tránh được quãng đường vận chuyển bộ trên 300km[2].
Lực lượng thông tin liên lạc phục vụ chiến dịch có tiểu đoàn thông tin 303, đại đội vô tuyến điện 230, đội chuyển đạt 231. Việc liên lạc giữa Bộ Chỉ huy với các cánh quân đều bằng vô tuyến điện sóng ngắn, giữa đại đoàn và trung đoàn liên lạc bằng vô tuyến điện kết hợp hỗ trợ bằng chuyển đạt. Các tiểu đội điện thoại được điều xuống các tiểu đoàn trước khi qua biên giới để kịp thời làm nhiệm vụ.
Ngày 8/4/1953, ta bí mật hành quân sang Sầm Nưa. Trong quá trình bộ đội hành quân, các đoàn xe thồ gạo, vũ khí đạn luôn bám sát đội hình. Trước sức tiến công của ta trên các hướng, địch co cụm về Cánh Đồng Chum và Luông Pha-băng. Sáng 13/4, Bộ Chỉ huy Chiến dịch ra lệnh cho các đơn vị đi đầu chuyển sang truy kích. Lực lượng hậu cần phải khắc phục khó khăn bảo đảm cho bộ đội truy kích tiêu diệt địch. Trong quá trình bộ đội ta truy kích địch trên Đường 7, ta thu được nhiều vũ khí chiến lợi phẩm. Số vũ khí đạn này được trang bị ngay cho bộ đội chiến đấu. Nhờ có số vũ khí chiến lợi phẩm mà yêu cầu vận chuyển đối với dân công giảm xuống, một khối lượng lớn vũ khí trang bị kỹ thuật dự trữ cho chiến dịch không phải dùng tới được vận chuyển về hậu phương phục vụ cho chiến dịch khác. Lực lượng bảo đảm thông tin liên lạc cho chiến dịch cùng với lực lượng thông tin ở các địa đoàn luôn bám sát các đơn vị bảo đảm cho thông tin thông suốt.
Sau những thắng lợi quan trọng ta giành được ở Sầm Nưa, Mường Huấn, Thưa Mường, Ban Ban, Keo Nhân, Mường Ngòi, Pak Súng, Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định kết thúc Chiến dịch Thượng Lào vào tháng 5/1953. Trong chiến dịch, liên quân Lào - Việt đã giải phóng tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng và tỉnh Phong Sa Lỳ. Căn cứ kháng chiến của cách mạng Lào được mở rộng, nối liền với vùng tự do của Việt Nam. Liên quân Lào - Việt tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, thu 1.204 súng trường, 256 tiểu liên, 135 trung liên, 11 đại liên, 4 trọng liên, 6 ĐKZ, 16 ba-dô-ca, 1 cối 120mm, 36 máy vô tuyến điện, 30 xe ô tô, 70 tấn đạn dược và nhiều quân trang, quân dụng[3]. Ngành Hậu cần - kỹ thuật trong chiến dịch đã huy động và vận chuyển gần 7.000 tấn lương thực, thực phẩm, 166 tấn đạn, cứu chữa 490 thương binh, số dân công do hậu cần chiến dịch trực tiếp sử dụng là 62.500 người, với 2.535.000 ngày công[4].
Trong Chiến dịch Thượng Lào, tổ chức và chỉ đạo hậu cần - kỹ thuật chiến dịch có bước phát triển mới. Hội đồng cung cấp mặt trận các liên khu và tỉnh đã phát huy vai trò hậu cần địa phương ở hậu phương, tạo điều kiện cho hậu cần chiến dịch tập trung hoạt động ở phía trước, bảo đảm các yêu cầu chiến đấu, phát huy sức mạnh hiệp đồng của từng ngành, từng lực lượng, góp phần làm nên thắng lợi chiến dịch. Đó là “dấu son trong lịch sử đoàn kết chiến đấu keo sơn Việt - Lào. Cũng chưa bao giờ bạn và ta giành được chiến thắng lớn với số thương vong ít như chiến dịch này…”[5].
ThS Lê Thị Thanh Huyền - Viện LSQS
Trần Thị Hồng Phượng - Trường Sĩ quan Đặc công


