Bão lốc Tây Sơn và khúc khải hoàn đại phá quân Thanh
Vào những năm cuối thế kỷ thứ mười tám, khi xóm làng xơ xác vì ngọn lửa phân tranh Trịnh - Nguyễn kéo dài hàng thế kỷ, đất nước bị chia cắt làm hai miền đẫm máu. Từ vùng đất Tây Sơn thượng đạo chốn rừng núi Quy Nhơn tĩnh mịch, ba anh em nhà Tây Sơn dấy binh khởi nghĩa. Trong ba anh em ấy, nổi bật lên một dung ma quái kiệt, đôi mắt sáng như chớp giật, giọng nói sang sảng như tiếng chuông đồng, vóc dáng như gấu ngựa rừng sâu. Đó là Nguyễn Huệ — người anh hùng áo vải mang trong mình thiên tài quân sự bách chiến bách thắng.
Khi quân Xiêm theo lời cầu viện của Nguyễn Ánh ồ ạt tràn sang xâm lược miền Tây Nam Bộ, mang theo hàng vạn tinh binh cùng hàng trăm chiến thuyền hung hãn, Nguyễn Huệ đã giăng ra một cái bẫy kinh thiên động địa trên sông Tiền. Mùa xuân năm một nghìn bảy trăm tám mươi lăm, tại khúc sông Rạch Gầm - Xoài Mút hiểm trở, ông nhử toàn bộ hạm đội giặc vào lòng sông hẹp. Giữa lúc con nước triều rút mạnh, đại bác Tây Sơn từ hai bên bờ nã đạn như trút mưa xuống lòng sông, hỏa công bùng lên thiêu rụi hàng trăm chiến thuyền giặc. Chỉ trong một ngày đêm, năm vạn quân Xiêm tan tành như mây khói, người sống sót hoảng loạn chạy về nước, từ đó nghe danh tướng Tây Sơn là hồn siêu phách lạc.
Thế nhưng, thử thách lớn nhất trong đời ông lại nằm ở phương Bắc. Cuối năm một nghìn bảy trăm tám mươi tám, nhân cơ hội nhà Lê suy tàn, nhà Thanh huy động hai mươi chín vạn quân sang thôn tính Đại Việt. Tên tướng Tôn Sĩ Nghị nghênh ngang tiến vào Thăng Long, coi việc đè bẹp nước Nam dễ như lấy đồ trong túi.
Trước nguy cơ mất nước, tại núi Bân ở Phú Xuân, Nguyễn Huệ chính thức bước lên ngai vàng, lấy hiệu là Quang Trung, rồi lập tức phát lệnh xuất quân thần tốc ra Bắc. Lời dụ của vua Quang Trung trước toàn quân tại Nghệ An vang vọng như tiếng sấm truyền khắp núi sông, khẳng định chủ quyền dân tộc và quyết tâm đánh giặc đến cùng:
"Đánh cho để dài tóc, Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó bánh xe lăn không quay lại, Đánh cho nó giáp trụ không mảnh giáp che thân. Để cho sử biết rằng nước Nam quốc hữu chủ!"
Mùa xuân năm Kỷ Dậu một nghìn bảy trăm tám mươi chín, cuộc tiến công thần tốc của quân Tây Sơn nổ ra. Nhân lúc quân Thanh còn chìm trong men rượu và tiệc tùng ăn Tết, vua Quang Trung chia quân làm năm đạo tiến như vũ bão. Đêm mùng ba Tết, căn cứ Hà Hồi bị bao vây hoàn toàn và phải xin hàng trong ngỡ ngàng. Sáng mùng năm Tết, trận đồn Ngọc Hồi - Đống Đa bùng nổ dữ dội. Vua Quang Trung khoác áo bào đỏ, cưỡi voi chiến trực tiếp xông pha nơi tuyến đầu. Quân Tây Sơn dùng lá chắn rơm quấn nước xông thẳng vào làn đạn, đập tan hoàn toàn tuyến phòng thủ kiên cố nhất của giặc. Tướng giặc Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự tử, Tôn Sĩ Nghị hoảng hốt không kịp thắng yên ngựa, vứt bỏ cả ấn tín tháo chạy qua cầu phao vỡ tan trên sông Hồng.
Trưa mùng năm Tết Kỷ Dậu, vua Quang Trung dẫn đầu đoàn quân chiến thắng tiến vào kinh thành Thăng Long. Chiếc áo bào màu đỏ của Ngài bị khói súng giặc nhuộm đen thành một màu xám xịt. Chỉ trong vòng sáu ngày đêm, hai mươi chín vạn quân Thanh bị đè bẹp hoàn toàn, viết nên trang sử đánh giặc thần tốc rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc.
Không chỉ là một thiên tài quân sự vô song, vua Quang Trung còn tỏ rõ tầm nhìn của một bậc minh vương khi bắt tay ngay vào việc phục hồi đất nước: mở cửa chợ thương mại, khuyến khích nông nghiệp, đề cao chữ Nôm và cải cách giáo dục. Dù ra đi quá sớm vào năm một nghìn bảy trăm chín mươi hai khi tuổi đời mới tròn ba mươi chín, hình ảnh vị anh hùng áo vải cờ đào Quang Trung - Nguyễn Huệ vẫn sống mãi như ngọn lửa mãnh liệt trong lòng dân tộc Việt Nam.



