Bài viết

BÃO LỬA DU KÍCH 1947 – 1948 VÀ KHÚC TRÁNG CA GIỮ LÀNG TRƯỚC HỌA "KHỦNG BỐ TRẮNG"

Quảng Ngãi29/09/2026Xã Trường Giang (Đoàn xã Trường Giang)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau ngày Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, cuộc đụng đầu lịch sử giữa quân dân Ninh Thuận và thực dân Pháp bước vào giai đoạn khốc liệt nhất. Kẻ thù điên cuồng thực hiện chiến lược bao vây, dồn dân rào làng, dùng "khủng bố trắng" hòng quét sạch mầm mống Việt Minh.

Trước dã tâm của giặc, dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng và nền móng cơ sở vững chắc mà các hạt giống đỏ tiền bối như đồng chí Trần Thi, Mai Mạnh dày công gầy dựng, hai năm 1947 – 1948 đã trở thành bản trường ca du kích lẫm liệt, đan xen giữa những chiến công oanh liệt và những khúc bi tráng nhuốm đỏ máu đào trên đất mẹ Ninh Phước.

1. Thế trận lòng dân: Dồn thôn lập xã và mạng lưới hầm ngầm trong vùng tạm chiếm (1947)

Đầu năm 1947, để thích ứng với chiến trường du kích phân tán, địa bàn huyện được tổ chức nằm gọn trong hai vùng chiến lược của tỉnh:

  • Vùng 2: Do đồng chí Nguyễn Ngọc Lân làm Bí thư, đồng chí Hoàng Hữu Thái chỉ huy dân quân.

  • Vùng 3: Do đồng chí Mai Mạnh làm Bí thư, đồng chí Lê Ù chỉ huy dân quân.

Ta nhanh chóng chấn chỉnh địa giới hành chính bằng việc sáp nhập thôn xóm thành các xã lớn mang tên gọi đầy khát vọng độc lập: xã Kiến Quốc, xã Tự Do, xã Xã Hội, xã Thống Nhất, cùng 4 xã vùng đồng bào Chăm (Phú Khánh, Lưu Đặng, Phú Mách, Tương Phúc).

Song song đó, một thế trận chiến tranh nhân dân độc đáo được thiết lập ngay trong vùng địch tạm chiếm tại Thuận Hòa, Vạn Phước, Phước Khánh, Bầu Máng, La Chữ...

  • Khẩu hiệu hành động lan tỏa đến từng gia đình: "Nhà nào cũng có hầm, thôn nào cũng có dân quân du kích".

  • Các tổ du kích luân phiên canh gác, dùng tín hiệu mõ, kẻng báo động khi có giặc càn quét.

  • Chính hệ thống hầm ngầm bí mật đan cài trong lòng xóm làng đã biến Thuận Hòa, Vạn Phước, Phước Khánh thành những căn cứ địa cách mạng bất khả xâm phạm nằm ngay sát nách các đồn bót giặc.

  • Cuối tháng 3/1947, Tỉnh đội Ninh Thuận được thành lập cùng Đại đội dân quân du kích tập trung do đồng chí Trần Hùng Sơn làm Đại đội trưởng. Ngay sau đó, Xã đội của tất cả các xã được kiện toàn từ 1 đến 2 tiểu đội, trang bị súng trường, lựu đạn và dao găm, sẵn sàng chặn đánh địch mọi lúc mọi nơi.

    2. Lửa hờn xuất kích: Chiến thắng Soi Giang, Mạ Gió, Phú Thọ và bão lửa trừ gian

    Khi lực lượng đã được tổ chức quy củ, quân và dân địa phương liên tục giáng cho quân viễn chinh Pháp những đòn sấm sét:

    • Chặn đứng đòn càn quét vào Mật khu CK7 (Đầu tháng 4/1947): Một đại đội lính Pháp hung hăng kéo lên lùng sục nhằm triệt phá căn cứ Hòn Thông (CK7). Nắm chắc quy luật hành quân của giặc, bộ đội ta bí mật mai phục tại suối Soi Giang, bất ngờ nổ súng diệt gọn 1 tiểu đội địch. Hoảng sợ rút lui, cánh quân Pháp tiếp tục bị các tổ du kích địa phương chặn đánh tơi bời tại sông Mạ Gió, gây nhiều thương vong, buộc tàn quân phải giẫm đạp lên nhau tháo chạy thục mạng về cố thủ ở đồn Hòa Trinh.

    • Trận công đồn Quốc gia Phú Thọ (1947): Phối hợp cùng du kích địa phương thông thạo địa hình, bộ đội ta mở đợt tập kích chớp nhoáng, đánh chiếm đồn Quốc gia Phú Thọ, tiêu diệt tại chỗ 14 tên địch, bức rút số còn lại chạy về đồn Mỹ An, thu giữ toàn bộ vũ khí, quân trang và đồ dùng quân sự.

  • Lưỡi gươm trừ gian diệt ác:

    • Cuối năm 1947, tổ du kích xã Ninh Thọ do đồng chí Hổ chỉ huy đã mưu trí đột kích vào tận thôn Phước An, trừng trị tên chỉ huy ác ôn ngay giữa thanh thiên bạch nhật, tước 1 khẩu tiểu liên và 4 khẩu súng trường.

    • Các tên tay sai khét tiếng có nhiều nợ máu như Lý Quỳ (Phước Khánh), Lý Nhã (Trường Sanh), Lý Khai (Ninh Quý), Lý Kiết (Thuận Hòa), Trần Trọng Quyền (An Thạnh)... lần lượt bị trừng trị thích đáng. Đòn trừ gian làm cho mạng lưới tay sai kinh hồn bạt vía, ngày không dám lộng hành, đêm đến phải co cụm chui rúc trong đồn.

    3. Bản hùng ca bi tráng: Vượt qua "khủng bố trắng" và những tượng đài kiên trung

    Bị đánh rát ở khắp nơi, thực dân Pháp điên cuồng dùng biện pháp tàn sát dã man nhằm dập tắt ý chí của nhân dân và cưỡng bức bà con vào các khu dồn dân:

    • Những vết thương máu lửa năm 1947:

    • Ngày 24/02/1947: Pháp càn quét làng Hòa Thạnh, bắn chết 16 thường dân vô tội.

    • Ngày 27/02/1947: Địch vây ráp thiêu rụi hoàn toàn làng Cà Thé, bắn chết 5 người và bắt đi thủ tiêu 7 người.

  • Đầu tháng 4/1947: Quân giặc càn qua làng Thạnh Đức, đốt cháy 42 ngôi nhà và sát hại dã man 94 người dân.

  • Ngày 13/9/1947: Vụ thảm sát Ấp Nam (xã An Hải) rúng động khi nhân dân kiên quyết từ chối vào khu tập trung; giặc Pháp phóng hỏa thiêu rụi hơn 75 nóc nhà và sát hại hơn 100 đồng bào lành hiền.

  • Khí tiết bất tử trước kế hoạch Đờ-la-tua (1948):

    • Đầu năm 1948, địch dùng "khủng bố trắng" càn quét dã man qua làng Hòa Thủy (giết 11 người), làng Trường Thọ (sát hại 26 người).

    • Hai cán bộ kiên trung Huỳnh Huyên và Mai Ngưu bị địch bắt giữ, tra tấn dã man bằng mọi nhục hình; kẻ thù tàn nhẫn châm lửa đốt cháy thân thể các anh, nhưng hai đồng chí vẫn cắn răng chịu đựng, thà hy sinh chứ nhất quyết không hé răng khai báo vị trí miệng hầm bí mật nuôi giấu đồng đội.

  • Tháng 02/1948, người cán bộ Chăm ưu tú Đổng Phú bị vòng vây địch bủa vây tại căn cứ Mương Quan (Vĩnh Thuận); anh đã ôm quả lựu đạn cuối cùng dưới bụng cảm tử tiêu diệt nhiều tên địch để mở đường máu giải vây an toàn cho bà con buôn làng.

  • Ngày 16/4/1948, trước mũi súng quân thù đòi cưỡng bức dời làng, hàng trăm đồng bào La Chữ đồng lòng hô vang lời thề: "Thà chết chứ nhất định không bỏ làng về khu tập trung của giặc!". Kẻ thù nổ súng bắn chết 1 người và bắt đi thủ tiêu 30 người, nhưng không bẻ gãy được ý chí sắt đá của nhân dân.

  • 4. Cục diện cuối năm 1948: Vòng vây thép và bước chuyển hướng sinh tử

    Đến cuối năm 1948, thực dân Pháp hoàn tất việc giăng mạng lưới kìm kẹp quy mô lớn trên toàn địa bàn huyện:

    • Dựng lên 27 đồn chính kiên cố và hơn 500 bót gác, tháp canh dày đặc trên mọi ngả đường.

    • Thiết lập 5 khu tập trung dân lớn mang tính cưỡng bức khắc nghiệt: Hoài Trung, Trường Sanh, Mông Nhuận, Phú Quý và Xóm Động.

    Vòng vây đồn bót và chính sách dồn dân rào làng ngột ngạt này đã đẩy một bộ phận lớn lực lượng vũ trang của ta ra xa đồng bằng, cơ sở quần chúng bị chia cắt, nhiều cán bộ tổn thất. Thế nhưng, chính trong gian khó tột cùng ấy, bản lĩnh kiên cường của Đảng bộ địa phương đã được kích hoạt: mở đường cho những quyết sách lịch sử của Huyện ủy trong việc thành lập Đại đội 212 độc lập, chuyển hướng bám trụ giai đoạn 1949 – 1951 để đi đến thắng lợi cuối cùng.

    Giai đoạn 1947 – 1948 trên dải đất Ninh Phước là khúc tráng ca bất tử về sự kiên cường của chiến tranh nhân dân.

    Máu của đồng bào Hòa Thạnh, Cà Thé, Thạnh Đức, Ấp Nam, La Chữ hòa quyện cùng sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ Huỳnh Huyên, Mai Ngưu, Đổng Phú đã trở thành biểu tượng sáng ngời cho khí phách "thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu làm nô lệ". Từng tấc đất quê hương, từng căn hầm bí mật từ thời đồng chí Trần Thi mở lối đã được bảo vệ bằng chính tính mạng của nhân dân, thắp sáng mãi ngọn lửa tự hào cho các thế hệ hôm nay.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn
    BÃO LỬA DU KÍCH 1947 – 1948 VÀ KHÚC TRÁNG CA GIỮ LÀNG TRƯỚC HỌA "KHỦNG BỐ TRẮNG" | Câu chuyện thời hoa lửa