Bão lửa Mậu Thân 1968: Hướng tiến công từ cửa ngõ Tây Nam
Đoạn trích tái hiện thời khắc lịch sử khi mật lệnh Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 được mở ra ngay trong chiều 30 Tết, kích hoạt một "cơn bão lửa" đồng loạt giáng xuống đầu Mỹ - ngụy. Tại mặt trận Tây Nam (Phân khu 3), cuộc chiến diễn ra rực lửa với sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa sức mạnh của các tiểu đoàn mũi nhọn thọc sâu vào nội đô Sài Gòn (cầu Nhị Thiên Đường, cầu Chữ Y) và biển người quần chúng nổi dậy làm chủ Quốc lộ 4. Từ những trận đánh cảm tử của biệt động tại Tòa đại sứ Mỹ,
Bốn ngày sau đó, tức là chiều 29 tháng Chạp năm Đinh Mùi tôi lại được triệu tập về sở chỉ huy Phân khu để chờ giờ bóc phong thư mật lệnh, đón nhận nhiệm vụ cụ thể phải làm. Còn một giờ nữa mới mở lệnh. Chính nhờ cái thời gian đi quá chậm này, tôi mới có điều kiện định vị được sở chỉ huy của mình, nằm lọt giữa một hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc, nơi mà tàu thuyền của địch luôn luôn tuần tiễu, ruồng bắt. Vậy mà chẳng ai bận tâm đến cái thực tế gây cấn ấy, trái lại các anh vẫn lạc quan, bình thản trong cồng việc của mình. Khác chăng là ai nấy đều gọn nhẹ, có động là phân tán liền, không để lại một dấu vết khả nghi nào. Họp bàn thống nhất, phân công cụ thể rồi lại phân tán mỗi người một hướng, đến một vùng đã được phân công mà chỉ đạo phong trào, mà chỉ huy chiến đấu. Cái chu kỳ điều hành chỉ huy thích nghi với một chiến trường ở một vùng sông nước, sình lầy kế cận với Sài Gòn này cứ lặp đi lặp lại nhiều lần, gây thành nếp quen, thành phong cách. Sở chỉ huy cũng được hiểu theo một khái niệm rất nhậy hoạt như giọt thủy ngân trong nhiệt kế. Không nhà cửa, không bàn ghế, không địa danh cụ thể mà là nhạy biến, thoắt ẩn, thoắt hiện, lúc ở Đức Huệ, khi về Đức Hòa, lúc luồn sâu quanh Bến Lức, Tân An, có khi vượt đường số 4 xuống miệt Tân Trụ, Cần Đước chi chít sông ngòi, kênh rạch, phân tán từng người, khoét thân dừa nước mọc hai bên bờ sông nơi gặp của hai đầu sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây để ở theo kiểu luồn lạch chui lủi hết ngày này sang tháng khác. Có lúc tưởng chừng như không chịu nổi. Vậy mà các anh vẫn tồn tại, lạc quan, vẫn hoạt động theo các dự kiến đã vạch, bởi các anh có lòng dân ủng hộ - một thứ áo giáp, một loại trận địa vững chắc bảo vệ cho sự tồn tại của các anh. Không có dân thì chẳng có gì hết...
Giờ mở lệnh đã đến! Lúc ấy khoảng 17 giờ ngày 30 Tết. Tim tôi đập nhanh và có lẽ các anh trong Bộ tư lệnh Phần khu cũng có chung tâm trạng như thế - đều hồi hộp dán mắt vào nơi tay anh Tư Thân đang run run bóc phong thư một cách lẹ làng, nâng niu.
Phong thư mở! Một tờ pơ-luya màu trắng nhẹ mỏng hiện ra trước mắt mọi người.
- Lệnh tiến công và nổi dậy bắt đầu vào ... giờ ngày 30 tháng 1 năm 1968 - Anh Tư Thân dõng dạc đọc rồi ngừng lại đưa mắt nhìn nhanh một lượt như muốn san sẻ niềm vui với cả Bộ tư lệnh; hai mắt anh nheo lại để khỏi phải dùng kính, giọng nhấn mạnh đọc tiếp - Trên toàn tuyến phải nghiêm chỉnh thực hiện quyết tâm chiến đấu đã được R thông qua. Phải kịp thời báo cáo các diễn biến về R.
Sự dồn nén của mong đợi có dịp bung ra. Mọi người nhẹ nhõm thở phào. Phấn khởi vì bao ngay chuẩn bị vất vả công phu nay được tiến hành. Nhưng cũng rất bất ngờ, không ai trong chúng tôi nghĩ rằng trên cho khởi sự đúng vào thời điểm Tết cổ truyền của dân tộc.
Anh Tư Thân, anh Chín Cần cười vui sảng khoái. Như để động viên củng cố lòng tin cho mọi người trước lúc lên đường anh Tư Thân nhấn mạnh: Địch càng bị bất ngờ. Theo tin tức từ cơ sở của ta báo, những ngày gần đây địch phán đoán ta đang chuẩn bị tấn công, nhưng chúng không tin ta đánh vào dịp Tết. Mặc dầu địch đã ra lệnh báo động toàn miền, hủy bỏ lệnh ngừng bắn trong dịp Tết, song lại chưa có sự chuẩn bị đối phó cụ thể. Ta cần khai thác triệt để yếu tô bất ngờ này, nhất là những giờ phút đầu của ngày N1, không được chệch choạc trước sau mà phải đồng loạt; không để địch rảnh tay ở nơi này tập trung lực lượng đôi phó ở nơi khác...
Cuộc họp nghe phổ biến mệnh lệnh của Bộ tư lệnh Miền diễn ra chưa đầy một tiếng đồng hồ, nhưng ai nấy đều thông suốt tư tưởng, hiểu rõ nhiệm vụ vì mọi việc đã được chuẩn bị từ trước. Chúng tôi chia tay lên đường trở lại các hướng, các mũi mà mình được phân công ngay khi trời vẫn còn chạng vạng, xa xa về phía tây vẫn còn ửng hồng, báo hiệu mặt trời chưa lặn hẳn. Từ sở chỉ huy cơ bản, tôi trở lại vùng Bến Lức với nhiệm vụ được giao cụ thể hơn: Hỗ trợ nhân dân nổi dậy, đồng thời tổ chức lực lượng đánh địch ở quanh khu vực thị xã Tân An, cắt giao thông nhưng giữ cầu Bến Lức để chủ lực ta có thể tiến vào từ hướng nam hỗ trợ cho cuộc chiến đấu trong nội đô Sài Gòn khi có lệnh.
Đêm 30 Tết ở đây không tối lắm. Trời đầy sao và quầng sáng từ các căn cứ của Mỹ ở Tân An, Bến Lức, Sài Gòn hắt lên một màu nhờ nhờ bàng bạc như ánh trăng. Càng về khuya cái yên tĩnh càng trùm lên khoảng không gian ít khi ngừng tiếng bom đạn này. Đã 12 giờ rồi! Năm Đinh Mão đang trôi qua, nhường lối cho năm Mậu Thân. Tiếng pháo cầm canh, tiếng động cơ của tàu bo bo của địch đi tuần tiễu trên sông Vàm cỏ Đông - đoạn Bến Lức đã tắt ngấm từ bao giờ. Tất cả đều im ắng. Còn vừa đúng sáu tiếng đồng hồ nữa là đến cái giờ G2; thiêng liêng, lịch sử. Chúng tôi liên tục so đồng hồ, ba cây kim vẫn đều đều quay vòng sao mà lúc này thấy lâu thế!
Niềm vui của giây phút nghe anh Tư Thân đọc chiều qua lại được nhân lên trong buổi sáng nay - sáng ngày mồng Một Tết Mậu Thân (tức ngày 31 tháng 1 năm 1968). Trời chưa sáng rõ đã nghe tiếng súng nổ râm ran từ phía nội đô vọng lại và nghe tiếng hò reo dậy đất của quần chúng nổi dậy ở hướng nam, dọc hai bên đường số 4 từ Bến Lức xuôi về Tân An. Từ các xóm ấp, nhân dân kết thành đội ngũ, giương cờ, khẩu hiệu băng qua các canh đồng, các kênh rạch, sinh lầy lên các lộ lẻ, đổ vào lộ lớn mỗi lúc một đông thêm. Khí thế chẳng khác nào những ngày đầu Cách mạng tháng Tám 1945 ở Ninh Hòa quê tôi...
Địch không kịp hiểu nổi về cái hiện tượng này. Mới hôm qua đây tất cả như chìm trong ách kìm kẹp của chúng, thì hôm nay tất cả đều bung ra, người mỗi lúc một đông, cờ, băng khẩu hiệu mỗi lúc một nhiều - kết vây thành biển người, phá bung bộ máy ngụy quyền ấp xã, vây các đồn bốt lẻ gọi loa kêu binh sĩ địch trở về với nhân dân, với cách mạng. Đoàn quân tay không đó bừng bừng khí thế tiến công tràn lên mặt đường số 4, vào sát thị xã Tân An, Bến Lức, khiến lính ngụy, lính Mỹ đóng ở dây trong tay có đủ súng đạn, có đủ hàng rào kẽm gai, bãi mìn vật cản dày đặc mà lại hoang mang, run sợ; cứ đứng trong đồn bót mà nhìn đội quân tay không đi qua trước mặt.
Tôi cải trang giả dạng nông dân hòa vào đội quân quần chúng cách mạng lên đường số 4 quan sát. Cuộc nổi dậy của nhân dân có sự hỗ trợ củ^ đại đội đặc công nước đứng chân ở Bến Lức và tiểu đoàn bộ binh Đồng Nai sau khi tập kích vào thị xã Tân An rút về đứng chân ở Hưng Long, vừa giữ thế phía sau cho Phân khu, làm nhiệm vụ phong tỏa đường số 4 không cho địch tiếp viện vào Sài Gòn, tạo điều kiện cho các đơn vị ở hướng bắc của Phân khu đánh vào các mục tiêu đã định trong nội đô như kế hoạch đã vạch.
Nếu ở hướng nam - chúng tôi đánh địch chủ yếu bằng sức mạnh của mũi nổi dậy của quần chúng, đã làm tê liệt, vô hiệu hóa các đồn bót địch, thực hiện chia cắt chiến trường, thì ở hướng bắc, mũi tiến công quân sự đã bắt đầu cuộc chiến đấu rất ác liệt ở ven đô, trước khi phát triển vào nội đô.
Ở hướng chủ yếu này, theo sự chỉ đạo của Bộ tư lệnh Phân khu, năm tiểu đoàn bộ binh1, một tiểu đoàn đặc công, một tiểu đoàn pháo binh và một đại đội trinh sát đã ém sẵn ở Long Cang, Long Định, Long Sơn, Phước Vân (thuộc địa bàn huyện cần Đước, Tân Trụ), Phước Lại (Cần Giuộc). Đây là một việc làm thật công phu với bao khó khăn phải khắc phục, vì là vùng sát nách Sài Gòn, với hệ thống đồn bốt địch dày đặc, cùng bao sông ngòi, kênh rạch chi chít, đưa một lực lượng lớn vào ém sẩn ở vùng sâu này quả thật không đơn giản. Việc tổ chức ăn, ở cho một lực lượng người như thế đâu phải dễ dàng, hơn nữa trong điều kiện phải giữ bí mật cao độ. Bởi nếu bộ thì địch ở đây có thừa điều kiện mở các cuộc hành quân để vây hãm, sát thương ta trước khi ta tiến công chúng. Tất cả các khó khăn và các tình huống gây cấn đó đã được anh Tư Thân, anh Chín Cần cùng các anh khác trong Bộ tư lệnh Phân khu 3 bàn bạc đến từng chi tiết của giả định và có kế hoạch khắc phục cụ thể đến từng khía cạnh nhỏ, nên đã bảo đảm đưa toàn bộ lực lượng vào ém sẵn trước 10 ngày khi có lệnh tiến công trên toàn tuyến một cách an toàn. Theo ý định của Bộ chỉ huy Miền: Các đơn vị chủ lực của Phân khu 3 sẽ tiến vào Sài Gòn từ hướng nam, vượt qua các tuyến phòng thủ ven đô, đánh vào các mục tiêu Tổng nha cảnh sát, dinh Độc lập, đài phát thanh, cùng các Phân khu 1, 2, 4 và 5 hình thành thế tiến công Sài Gòn từ năm cánh, với phương thức là dùng các tiểu đoàn “mũi nhọn” phối họp với các lực lượng biệt động nội đô đánh chiếm các mục tiêu cùng các cơ sở cách mạng trong nội đô phát động quần chúng nổi dậy.
Ngay từ lúc giờ G của ngày N bắt đầu, các tin tức chiến thắng, các bài học kinh nghiệm đã được các anh ở sở chỉ huy cơ bản của Phân khu thông báo kịp thời. Trong khi chúng tôi hỗ trợ nhân dân nổi dậy làm chủ thôn ấp, làm chủ đường số 4, thực hành phong tỏa con lộ này, thì ở hướng bắc, các đơn vị của Phân khu đã chia thành ba cánh đánh địch đạt nhiều hiệu quả:
- Cánh thứ nhất, tiểu đoàn 2 Long An thọc vào Phú Định, đánh bật tiểu đoàn 33 biệt động quân về Phú Lâm, rồi phát triển theo đường Hậu Giang đến đường Dương Công Trừng, đánh lên chợ Thiếc gặp các cánh quân của Phân khu 2.
- Cánh thứ hai, tiểu đoàn 1 của Long An đánh thọc lên quận 8 đến bắc cầu Nhị Thiên Đường. Địch từ quận 5, quận 6 dồn xuống ngăn chặn, Bộ tư lệnh Phân khu 3 kịp thời đưa tiểu đoàn Phú Lợi đánh ra Đa Phước giữ phía sau, bảo đảm cho tiểu đoàn 1 Long An thực hành phản kích bên trong.
- Cánh thứ ba, tiểu đoàn 5 Nhà Bè tiến công Tân Quy (nam Xóm Chiếu) nhưng không vượt được sông vì bị địch từ Tân Thuận ra ngăn chặn...
Cuộc chiến đấu diễn ra cực kỳ gay go và ác liệt, liên tục trong năm ngày đầu của cuộc tiến công. Các đơn vị của ta đã bất chấp mọi gian nan, nguy hiểm, đẩy địch lùi dần, tạo ra thế trụ bám ngay trong nội đô, (như khu vực chợ Thiếc, khu vực cầu Nhị Thiên Đường), đối mặt với lữ đoàn 5 thủy quân lục chiến và liên đoàn 5 biệt động quân - những lực lượng tổng trù bị tin cậy của quân đội ngụy Sài Gòn.
Theo kế hoạch từ trong đánh ra phối hợp với ngoài đánh vào, ngay từ giờ phút đầu của cuộc tiến công, lực lượng đặc công - biệt động ém sẵn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đánh chiếm các mục tiêu quan trọng:
2 giờ ngày 31 tháng 1 năm 1968, mười bảy chiến sĩ thuộc đội biệt động số 11 do Ngô Thành Vân chỉ huy tiến công Tòa đại sứ Mỹ bằng ba mũi, chiếm tầng một, đánh lùi ba đợt phản kích của địch. Mãi 9 giờ sáng, địch dùng trực thăng đổ bộ bọn cảnh sát quân sự từ sân thượng đánh xuống, ta buộc phải rút lui sau khi đã chiếm ngôi nhà này liền trong sáu giờ.
Đội biệt động số 3 do Ba Thanh chỉ huy đánh dinh Độc Lập- Đội có 15 chiến sĩ (có một nữ) chia thành ba tổ đánh vào. Địch chống trả quyết liệt, ta rút ra trụ lại ở đường Nguyễn Du gần đó chiến đấu suốt ngày 31 tháng 1.
- Đội biệt động số 4 do Tư Tăng chỉ huy gồm 12 chiến sĩ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ đánh chiếm (sau đó được lệnh phá) đài phát thanh Sài Gòn.
- Đội biệt động số 67 có sự hỗ trợ của tiểu đoàn “mũi nhọn” số đánh vào khu vực Bộ tổng tham mưu ngụy; đánh địch phản kích quyết liệt suốt hai ngày đêm ở khu vực này.
Sự dũng cảm và trí thông minh tuyệt với của các chiến sĩ đặc công - biệt động nội đô được thông báo kịp thời xuống Phân khu ngay lúc đó, đẫ khích lệ chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ tiếp sau trên hướng tiến công phía nam: đánh cầu Bến Lức và chốt giữ cầu chữ Y liên tục trong 15 ngày liền, góp phần vào chiến thắng mùa xuân 1968.


