Bảo tàng chứng tích chiến tranh
Chúng tôi tìm gặp Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, nguyên Thứ trưởng Quốc phòng, người giữ cả một “kho tàng” quân sử về Quảng Trị. Năm nào, cứ dịp tháng 7 ông đều thăm lại chiến trường xưa, về nơi ông coi là quê hương thứ hai mang nặng bao nghĩa tình đồng đội. “Năm nay tôi đã đến tuổi 77 rồi, đã 58 tuổi quân, tôi có rất nhiều kỷ niệm nhưng ký ức ở chiến trường Quảng Trị có lẽ là sâu nặng nhất. Quảng Trị có thể nói là quê hương thứ hai của tôi, đó là tình sâu nghĩa nặng đối với đồng bào, đồng chí và đồng đội”, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu chậm rãi kể lại câu chuyện của ông.
Quảng Trị là mảnh đất mà Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu khi xưa đã trải qua tám năm thanh xuân, gần 3.000 ngày sát cánh chiến đấu cùng đồng đội. Ông đã chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị từ Tết Mậu Thân 1968 đến mùa Xuân 1975, mà theo ông, “là khoảng thời gian oanh liệt, đáng nhớ nhất của cuộc đời”.
Nhập ngũ năm 1965, chiến đấu trên các chiến trường thuộc Quân khu IV và ở Lào, từ tháng 2/1968 ông được điều động theo đơn vị về Quảng Trị. Khoảng thời gian 5 năm (1968-1973) ở đây, người lính Nguyễn Huy Hiệu đã từng bước trưởng thành từ cấp tiểu đội trưởng lên đến cấp trung đoàn phó. Ngày 20/12/1973 ông được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) khi mới ở độ tuổi 26.
“Trong cuộc đời binh nghiệp của tôi đã được vinh dự tham gia bốn chiến dịch lớn, đó là Mậu Thân 1968, Chiến dịch đường 9 - Nam Lào 1971, Chiến dịch 1972 và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử”, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu nhớ lại. Riêng với mảnh đất Bình Trị Thiên khói lửa, đó là nơi ông đã cùng đồng đội trải qua những năm tháng chiến đấu kiên cường, gắn với hy sinh, xương máu của biết bao đồng đội. Thượng tướng nhớ lại, hôm nhận danh hiệu Anh hùng LLVTND khi mới 26 tuổi, ông đã khóc rất nhiều vì “nhớ hình ảnh từng đồng đội của mình, biết bao nhiêu cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 27 - mặt trận B5 thân yêu của tôi đã anh dũng ngã xuống và nhờ họ mà tôi mới có được vinh quang này”.
“Năm 1968, khi đó tôi là trung đội trưởng. Sau một trận đánh, chúng tôi nhặt được một chiến lợi phẩm là tấm dù 18 múi. Lúc ấy chúng tôi có đúng 18 người, chiếc dù được cắt ra chia cho mỗi người một múi, khâu tên vào để dùng băng bó khi bị thương, ngụy trang, làm chăn đắp khỏi lạnh, tránh muỗi, nếu hy sinh thì lấy tấm dù đó gói thi thể đem chôn. Vậy mà cuối cùng 17/18 người hy sinh chỉ còn lại một mình tôi”, Thượng tướng kể lại trong cuốn hồi ký của mình. Ngay sau khi đất nước thống nhất, điều đầu tiên mà ông nghĩ đến là những đồng đội của mình mãi mãi nằm ở chiến trường và cuộc hành quân đi tìm đồng đội chính là mở đầu cho hành trình tri ân không ngơi nghỉ của vị tướng. Hầu như năm nào cũng vậy, ông và vợ là bác sĩ Lại Thị Xuân cũng vào chiến trường xưa đặc biệt là Quảng Trị, ít nhất một lần.


