Bảo vệ bầu trời Hà Nội từ sớm

Bảo vệ bầu trời Hà Nội từ sớm là nhấn mạnh đến sự chủ động chuẩn bị trước về thời gian. Bảo vệ bầu trời Hà Nội “từ sớm” là sớm về tư duy, nhận thức, sớm có quan điểm chỉ đạo, phương châm hành động, sớm trong nhận diện nguy cơ uy hiếp, sớm có phương án, lực lượng, phương tiện bảo vệ. Quá trình xây dựng, củng cố, phát triển cũng là quá trình triển khai các biện pháp phòng ngừa, bảo vệ, tự bảo vệ từ trước. Như vậy, bảo vệ bầu trời Hà Nội từ sớm có nghĩa là phải có chiến lược bảo vệ, tự bảo vệ bên trong, từ bên trong; ngăn ngừa, triệt tiêu các nhân tố xâm lược, phá hoại, mất ổn định bên trong lẫn bên ngoài. Vì thế, ngay sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Hà Nội chưa có pháo cao xạ như nhà chưa có nóc”. Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Người và đáp ứng yêu cầu cách mạng, từ năm 1954 đến năm 1964, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã ra quyết định thành lập nhiều đơn vị pháo phòng không: Trung đoàn 210, 220, 230, 240, 250, 260, 280; trong đó, có ba trung đoàn pháo phòng không bảo vệ Hà Nội là 220, 230 và 260.
Ngay từ năm 1962, khi Mỹ chưa sử dụng máy bay B-52 ở chiến trường Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến vũ khí tối tân, hiện đại bậc nhất này của Mỹ và đã chỉ thị cho lực lượng phòng không chủ động nghiên cứu để tiêu diệt nó.
Cùng với việc tự chuẩn bị về tư duy, quan điểm, lực lượng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ động đề nghị Liên Xô giúp Việt Nam xây dựng lực lượng tên lửa phòng không nhân dịp Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Kô-xư-ghin thăm Hà Nội, tháng 2-1965. Hai trung đoàn tên lửa 236 và 238 được thành lập, trong đó Trung đoàn 236 - đơn vị tên lửa đầu tiên - được triển khai chiến đấu tại khu vực Suối Hai, Bất Bạt, Hà Tây (nay là Hà Nội), để đối phó với không quân Mỹ đang leo thang đánh ra miền Bắc.Để tạo thêm lưới lửa bảo vệ Hà Nội, ngày 19-5-1965, Bộ Tổng Tư lệnh ra quyết định số 67/QĐ-QP, thành lập Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Nội, trực thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân. Sự ra đời của Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Nội, cùng các lực lượng phòng không khác, mở đầu cho việc hình thành lực lượng phòng không ba thứ quân ở Thủ đô, trong đó lực lượng phòng không Sư đoàn Phòng không 361 làm nòng cốt, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong chiến đấu chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của không quân Mỹ. Đồng thời, sự kiện này còn đánh dấu một bước phát triển cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng kịp thời yêu cầu tác chiến phòng không bảo vệ Thủ đô Hà Nội - trái tim thiêng liêng của Tổ quốc.
Ngày 18-6-1965, đế quốc Mỹ sử dụng máy bay chiến lược B-52 ném bom rải thảm khu vực Bến Cát (phía tây bắc Sài Gòn). Trước hành động phiêu lưu quân sự mới của Mỹ, ngày 19-7-1965, khi đến thăm Quân chủng Phòng không - Không quân, tại Trung đoàn 234 (Đoàn pháo cao xạ Tam Đảo), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B-57, B-52, hay “bê” gì đi chăng nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã đánh là nhất định thắng” (3). Trước hành động Mỹ dùng B-52 đánh ra Quảng Bình, sau đó đánh rộng ra Vĩnh Linh - Quảng Trị năm 1966, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị lực lượng phòng không - không quân phải tìm ra cách đánh B-52.
Quán triệt tinh thần đó, Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo lực lượng vũ trang, trực tiếp là Quân chủng Phòng không - Không quân xây dựng kế hoạch tác chiến phòng không chống địch tập kích B-52 đánh vào Hà Nội. Với quan điểm “muốn bắt cọp thì phải vào tận hang”, Trung đoàn Tên lửa 238 đã được đưa vào tuyến lửa Vĩnh Linh để nghiên cứu cách đánh B-52.Sau nhiều lần hội thảo khoa học và rút kinh nghiệm trong chiến đấu, Quân chủng Phòng không - Không quân đã tìm ra cách đánh và quyết tâm đánh bại âm mưu của đế quốc Mỹ. Tất cả sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, về ý chí, quyết tâm đã thể hiện ta “không để bị bất ngờ”, sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của địch. Năm 1968, Quân chủng Phòng không - Không quân đã bắt tay xây dựng kế hoạch đánh trả cuộc tập kích bằng máy bay B-52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội.
Với những kinh nghiệm ban đầu, với quyết tâm cao độ, trong khoảng thời gian từ năm 1968 đến giữa năm 1972, Quân chủng Phòng không - Không quân tiếp tục điều động 4 trung đoàn tên lửa cùng một số máy bay MiG vào Khu 4 để chi viện cho Chiến dịch Trị - Thiên và tiếp tục nghiên cứu cách đánh B-52. Đồng thời, chủ động xây dựng kế hoạch tác chiến đánh trả cuộc tập kích bằng B-52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng. Đến tháng 9-1972, Quân chủng đã chính thức xây dựng được phương án đánh máy bay B-52 bằng việc phổ biến trong bộ đội phòng không cuốn “cẩm nang đỏ” là cuốn sách “Cách đánh B-52 của Bộ đội Tên lửa”. Đây là kết quả của quá trình tìm tòi, khảo nghiệm, tổng kết thực tiễn chiến đấu, sáng tạo cách đánh của lực lượng phòng không - không quân. Trên cơ sở tài liệu này, ngày 31-10-1972, Quân chủng tổ chức hội nghị cán bộ để thảo luận phổ biến cách đánh B-52, sau đó tổ chức huấn luyện cho các kíp chiến đấu; tiến hành công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, xây dựng quyết tâm; đôn đốc kiểm tra mọi mặt chuẩn bị, đánh trả cuộc tập kích đường không của địch.
Với khí thế cách mạng tiến công, từ năm 1971 - 1972, quân dân miền Nam mở cuộc tiến công chiến lược lớn trên khắp chiến trường miền Nam. Vùng giải phóng ở các khu vực: Trị - Thiên, đồng bằng Khu 5, Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ mở rộng, tạo thành thế bao vây, chia cắt địch. Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ đứng trước nguy cơ phá sản. Để cứu vãn tình thế, đế quốc Mỹ phải dùng phần lớn hỏa lực của không quân và hải quân, “Mỹ hóa” trở lại cuộc chiến tranh ở miền Nam, đồng thời chuẩn bị ném bom trở lại miền Bắc. Tổng thống Mỹ Ních-xơn quyết định mở cuộc tập kích đường không chiến lược mang tên Linebacker-II, chủ yếu bằng các “siêu pháo đài bay B-52” đánh phá Hà Nội, Hài Phòng và một số địa phương ở miền Bắc.
Trước âm mưu của Mỹ, thực hiện chỉ đạo của Trung ương Đảng và Bộ Tổng tham mưu, Quân chủng Phòng không - Không quân gấp rút củng cố, bổ sung lực lượng và phương án tác chiến để đáp ứng các yêu cầu chiến lược. Tại Hà Nội, Hải Phòng có 5 trung đoàn tên lửa, 6 trung đoàn pháo cao xạ (không kể 8 trung đoàn cao xạ của Quân khu 3, Quân khu Việt Bắc), 4 trung đoàn không quân, trong đó chỉ có 2 trung đoàn MiG-21, Ra-đa chỉ có 4 trung đoàn rải khắp miền Bắc. Ngoài ra, lực lượng phòng không của dân quân tự vệ 9 tỉnh có 1.316 khẩu pháo cao xạ các loại. Do yêu cầu và tính chất chiến đấu, Bộ Quốc phòng điều chỉnh một số đơn vị chủ lực và thành lập những đơn vị phòng không mới. Trên địa bàn Hà Nội, Sư đoàn 361 được bổ sung 3 trung đoàn pháo cao xạ 57 và 37 ly (mới thành lập). Đến tháng 6 năm 1972, việc bố trí hỏa lực phòng không trên miền Bắc và Hà Nội đã có nhiều điểm mới để tập trung cho các trận địa ở Hà Nội.
Tháng 11-1972, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam khẳng định, âm mưu của Mỹ cho B-52 đánh Thủ đô Hà Nội - linh hồn của cuộc kháng chiến - sẽ là hành động gây sức ép cuối cùng để buộc chúng ta phải nhân nhượng. Vì vậy, chúng ta phải kiên quyết đánh thắng chúng trên bầu trời Thủ đô... Ngày 25-11-1972, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị: “Tăng cường sẵn sàng chiến đấu”. Bộ Tổng Tư lệnh chỉ thị cho các lực lượng vũ trang tăng cường các mặt chuẩn bị chiến đấu, đồng thời nhận định có nhiều khả năng địch đánh phá trở lại toàn miền Bắc với mức độ ác liệt hơn, kể cả việc dùng máy bay B-52 đánh ồ ạt vào Hà Nội, Hải Phòng. Do đó: “Nhiệm vụ trung tâm đột xuất trước mắt của Bộ đội Phòng Không - Không quân là tập trung mọi khả năng nhằm đối tượng chính là B-52 mà tiêu diệt” (4).
Như vậy, việc xác định Mỹ sẽ điều B-52 đánh phá bầu trời Hà Nội và chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội giúp chúng ta có quá trình chuẩn bị công phu 10 năm từ trước khi Mỹ đưa B-52 ra đánh phá bầu trời Hà Nội. Sự chuẩn bị từ sớm về thời gian, lực lượng, huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật, cải tiến vũ khí trang bị, chuẩn bị sẵn sàng về tâm thế, sớm tìm ra cách đánh máy bay B-52 và chuẩn bị một trận địa phòng không ba thứ quân, nòng cốt là bộ đội phòng không - không quân, giúp ta giành thế chủ động ngay từ ngày đầu, trận đầu. Trong 12 ngày đêm, quân, dân Hà Nội và quân, dân các tỉnh miền Bắc đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng không quân lớn nhất của đế quốc Mỹ, bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay chiến lược B-52, lập nên một kỳ tích chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, là kết quả rực rỡ của tư duy bảo vệ bầu trời Hà Nội từ sớm.



