Bát cơm của mẹ
Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, tôi đã ăn biết bao nhiêu bữa cơm.
Có những bữa cơm đầy thịt cá.
Có những bữa cơm trong những nhà hàng sang trọng.
Nhưng bữa cơm ngon nhất cuộc đời tôi lại là một bát cơm trắng với vài quả cà muối, được một người mẹ nông dân nhường cho giữa những ngày chiến tranh.
Đến hôm nay, mỗi lần nhớ lại, lòng tôi vẫn nghẹn ngào.
Đó là mùa hè năm 1972.
Sau nhiều ngày chiến đấu liên tục, đơn vị chúng tôi được lệnh hành quân xuyên đêm để kịp chi viện cho một mũi tiến công.
Ba ngày liền, anh em chỉ ăn lương khô và uống nước suối.
Ai cũng mệt lả.
Đến trưa, chúng tôi dừng chân ở một xóm nhỏ nằm ven cánh đồng.
Bom đạn đã cày nát nhiều mái nhà.
Khói vẫn còn bốc lên từ những đống rơm cháy.
Một cụ bà chừng sáu mươi tuổi nhìn thấy chúng tôi.
Bà không hỏi tên.
Không hỏi quê quán.
Chỉ nhìn những khuôn mặt gầy gò rồi nói:
– Các con vào nhà nghỉ một lát.
Ngôi nhà chỉ có ba gian, mái tranh đã thủng nhiều chỗ.
Trong góc bếp, nồi cơm vừa chín.
Bà mở nắp nồi.
Cơm không nhiều.
Tôi biết đó có lẽ là phần ăn của cả gia đình.
Anh tiểu đội trưởng vội xua tay:
– Thưa mẹ, chúng con không dám nhận.
Bà mỉm cười hiền hậu.
– Các con còn phải đi đánh giặc. Mẹ ăn sau cũng được.
Rồi bà chia từng bát cơm nhỏ cho từng người.
Thức ăn chỉ có một đĩa cà muối và bát canh rau tập tàng.
Thế nhưng chưa bao giờ tôi thấy bữa cơm nào ngon đến thế.
Có lẽ vì trong từng hạt cơm là cả tấm lòng của người mẹ Việt Nam.
Khi chuẩn bị lên đường, anh em lén để lại ít lương khô trên bàn.
Đi được một quãng, tôi nghe tiếng gọi phía sau.
Quay lại, tôi thấy bà đang chạy theo.
Trên tay là gói lương khô.
Bà thở hổn hển:
– Mẹ không lấy đâu.
Các con mang theo mà ăn đường.
Mẹ còn trồng được lúa.
Các con ngoài chiến trường thì biết lấy gì mà ăn.
Nói rồi bà nhét lại gói lương khô vào ba lô tôi.
Tôi cúi đầu, nước mắt cứ thế rơi.
Ba năm sau, ngày đất nước thống nhất, tôi trở lại xóm nhỏ ấy.
Con đường đất năm xưa đã rộng hơn.
Những hố bom đã phủ đầy cỏ.
Tôi tìm đến ngôi nhà cũ.
Người dân bảo:
– Mẹ mất rồi.
Bà mất vào cuối năm 1974, sau một trận bom.
Tôi lặng người.
Tôi thắp một nén hương trên bàn thờ.
Bên cạnh di ảnh là chiếc nồi đất cũ đã sứt quai.
Tôi nhớ ngay đến nồi cơm năm ấy.
Có lẽ đó là nồi cơm cuối cùng bà nấu cho bộ đội.
Trước khi ra về, con trai của bà đưa cho tôi một chiếc khăn tay.
Anh nói:
– Mẹ tôi giữ cái này từ ngày các chú đi.
Bà bảo, nếu sau này gặp lại bộ đội thì gửi.
Tôi mở chiếc khăn.
Bên trong là mấy hạt lúa đã khô.
Kèm một mảnh giấy nhỏ với dòng chữ nguệch ngoạc:
"Mong các con ăn no để đánh thắng giặc rồi trở về."
Tôi ôm chiếc khăn vào ngực.
Không nói nên lời.
Các cháu thân mến!
Chiến tranh đã lùi xa.
Nhưng mỗi lần cầm bát cơm trên tay, tôi lại nhớ đến người mẹ ấy.
Bà không có huân chương.
Không có danh hiệu.
Nhưng trong lòng những người lính chúng tôi, bà là một người anh hùng.
Bởi bà đã dạy chúng tôi rằng:
Lòng yêu nước đôi khi không nằm ở những điều lớn lao.
Mà bắt đầu từ một bát cơm, một lời động viên, một sự sẻ chia giữa lúc khó khăn nhất.
Ngày nay, các cháu được lớn lên trong hòa bình, không còn thiếu ăn, thiếu mặc như thế hệ chúng tôi.
Hãy biết quý trọng từng hạt gạo, từng bữa cơm gia đình.
Bởi mỗi hạt gạo hôm nay đều được vun đắp từ mồ hôi của người nông dân và từ sự hy sinh của biết bao thế hệ đi trước.
Mỗi năm đến ngày 27 tháng 7, tôi vẫn nấu một bát cơm trắng, đặt bên đĩa cà muối trên bàn thờ.
Không phải vì tôi thích món ăn ấy.
Mà để nhớ về một người mẹ đã nhường phần cơm của mình cho những người lính trẻ.
Một bát cơm giản dị.
Nhưng đủ sưởi ấm cả một đời người.
Đó là bát cơm của mẹ.
Bát cơm của tình quân dân.
Và cũng là hương vị không bao giờ phai của một thời hoa lửa.



