Cựu chiến binh

BÁT CƠM NẮM Ở RỪNG CAO SU

Lào Cai22/05/2026sưu tầm (Tuổi trẻ xã Bảo Thắng)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi là Lê Thị Nguyệt, sinh năm 1953, quê ở Tây Ninh. Nhà tôi ở gần một rừng cao su rộng lớn. Từ nhỏ, tôi đã quen nhìn những hàng cây thẳng tắp, thân trắng bạc, sáng sớm có những giọt mủ chảy xuống chén nhỏ như nước mắt. Chiến tranh khiến rừng cao su quê tôi nhiều lần cháy xém, nhưng cũng chính nơi ấy đã che chở cho bộ đội, du kích và những người dân như chúng tôi.

Tôi tham gia cơ sở cách mạng khi mới mười sáu tuổi. Công việc ban đầu rất đơn giản: đưa thư, giấu tài liệu, nấu cơm cho cán bộ. Tôi nhỏ người, nhanh chân nên thường được giao mang cơm nắm vào rừng cho bộ đội. Mẹ tôi dạy tôi cách nắm cơm thật chặt, bọc trong lá chuối để đi xa không bị rời. Mỗi lần đưa cơm, mẹ lại nhìn tôi thật lâu rồi dặn: “Có bị bắt cũng đừng khai đường vào căn cứ.”

Tôi gật đầu, nhưng thú thật trong lòng rất sợ.

Một buổi trưa năm 1970, tôi nhận nhiệm vụ mang cơm và thuốc men vào một điểm hẹn sâu trong rừng cao su. Hôm ấy trời nắng gắt, mặt đất khô rang, ve kêu inh ỏi. Trong chiếc giỏ tre của tôi có mấy bát cơm nắm, ít muối mè, vài lọ thuốc đỏ và băng gạc. Tôi giả vờ như đi cạo mủ cùng người trong xóm, nhưng khi qua ngã ba đất đỏ thì rẽ vào lối mòn.

Người đón tôi là anh Tư Hòa, một chiến sĩ giải phóng quân sinh năm 1946. Anh bị thương nhẹ ở tay nhưng vẫn cười rất hiền. Mỗi lần nhận cơm, anh đều nói: “Cơm của cô Nguyệt ngon hơn cơm nhà bếp.” Tôi biết anh nói để tôi vui, vì cơm nắm chỉ có muối mè, nhiều hôm còn khô cứng. Nhưng giữa rừng, một nắm cơm cũng quý như vàng.

Hôm ấy, khi tôi vừa trao giỏ cơm cho anh Tư thì ngoài xa có tiếng chó sủa và tiếng lính địch gọi nhau. Chúng đang càn vào rừng. Anh Tư lập tức kéo tôi xuống một hố lá khô, ra hiệu im lặng. Tôi nghe tim mình đập mạnh đến mức tưởng địch cũng nghe thấy. Qua kẽ lá, tôi thấy những đôi giày đi rất gần, thấy nòng súng lướt qua trước mắt.

Một tên lính dừng lại gần chỗ chúng tôi nấp. Nó dùng lưỡi lê chọc xuống lớp lá quanh đó. Mũi lê chỉ cách tay tôi gang tấc. Tôi cắn chặt môi, không dám thở mạnh. Bên cạnh, anh Tư giữ chặt khẩu súng, mắt nhìn tôi như nhắc phải bình tĩnh.

May sao, có tiếng gọi từ phía khác, toán lính kéo đi. Nhưng chúng chưa đi xa thì súng nổ. Một tổ bộ đội khác bị phát hiện. Anh Tư bật dậy, nói nhanh: “Em theo lối cũ về ngay!” Tôi không chịu, vì giỏ thuốc vẫn còn chưa chuyển hết. Anh nhìn tôi, nghiêm giọng: “Em sống thì còn đưa được nhiều chuyến nữa.”

Tôi ôm chiếc giỏ rỗng chạy theo lối mòn, phía sau tiếng súng dồn dập. Chạy được một đoạn, tôi vấp ngã. Đầu gối rướm máu, nhưng tôi không dám dừng. Khi về đến nhà, mẹ kéo tôi vào buồng, ôm chặt. Tôi không khóc lúc ở rừng, nhưng khi thấy mẹ, tôi bật khóc nức nở.

Chiều tối, tin báo về: anh Tư Hòa và hai chiến sĩ khác đã chặn địch để đồng đội rút, rồi hy sinh gần suối cạn. Trong ba lô của anh, người ta tìm thấy một nắm cơm còn nguyên chưa kịp ăn. Nắm cơm ấy do chính tay tôi gói buổi trưa.

Nhiều năm sau, hình ảnh nắm cơm ấy cứ ám ảnh tôi. Tôi nghĩ mãi, không biết trước lúc hy sinh, anh có đói không. Tôi thương anh, thương những người lính đã đi qua tuổi trẻ bằng những bữa cơm vội, giấc ngủ ngắn và những trận đánh không hẹn ngày về.

Sau ngày giải phóng, rừng cao su quê tôi xanh trở lại. Những hàng cây mới được trồng lên, thẳng tắp trong nắng. Tôi lập gia đình, sinh con, rồi tiếp tục sống trên mảnh đất ấy. Mỗi lần nắm cơm cho con cháu đi xa, tôi lại nhớ đến những bát cơm nắm trong rừng. Tôi kể cho chúng nghe rằng ngày xưa, một nắm cơm nhỏ có thể mang theo cả tình dân, nghĩa nước và niềm tin vào ngày thắng lợi.

Bây giờ, nếu ai hỏi tôi thời hoa lửa là gì, tôi sẽ không nói đến những điều quá lớn lao. Tôi sẽ kể về một bát cơm nắm bọc lá chuối, về một người chiến sĩ chưa kịp ăn, về rừng cao su nắng cháy và những con người lặng thầm đem cả tuổi trẻ mình đặt vào lòng đất để đổi lấy bình yên hôm nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn