BÁT CƠM SẤY CHIA ĐÔI
Sương muối phủ trắng xóa những tai đá vôi nhọn hắt trên đỉnh 1500 Vị Xuyên. Cái rét cắt da cắt thịt của mùa đông miền biên giới hòa cùng mùi khói pháo khét lẹt, xới tung từng tấc đất nơi “lò vôi thế kỷ”. Nằm dán mình trong góc hầm dã chiến chật hẹp, gầm pháo đốm lửa cứ rung lên bần bật theo từng đợt oanh kích.Sương muối phủ trắng xóa những tai đá vôi nhọn hắt trên đỉnh 1500 Vị Xuyên. Cái rét cắt da cắt thịt của mùa đông miền biên giới hòa cùng mùi khói pháo khét lẹt, xới tung từng tấc đất nơi “lò vôi thế kỷ”. Nằm dán mình trong góc hầm dã chiến chật hẹp, gầm pháo đốm lửa cứ rung lên bần bật theo từng đợt oanh kích.
Sương muối phủ trắng xóa những tai đá vôi nhọn hắt trên đỉnh 1500 Vị Xuyên. Cái rét cắt da cắt thịt của mùa đông miền biên giới hòa cùng mùi khói pháo khét lẹt, xới tung từng tấc đất nơi “lò vôi thế kỷ”. Nằm dán mình trong góc hầm dã chiến chật hẹp, gầm pháo đốm lửa cứ rung lên bần bật theo từng đợt oanh kích.
Chú lính trẻ Nam run lên vì lạnh, tay ôm ghì lấy cây súng. Thấy vậy, ông Bảy – người tiểu đội trưởng mang trên mình nhiều vết thương – rảo mắt nhìn quanh rồi lặng lẽ bới từ đáy ba lô ra một mảnh cơm sấy cuối cùng. Mảnh cơm đượm mùi khói đạn, bọc cẩn thận trong chiếc khăn tay ngấm sương.
Ông Bảy đẩy mảnh cơm sang phía Nam: – Chú ăn đi để còn giữ sức gác ca đêm.
Nam gạt lại, ánh mắt kiên định dưới lớp bụi than mờ: – Anh bị thương, anh ăn mới trụ được. Em còn khỏe lắm!
Bát cơm sấy nhỏ bé cứ chuyền qua chuyền lại giữa hai đôi tay chai sạn cho đến khi nó vỡ vụn. Họ chia nhau từng hạt cơm dính bụi súng, nụ cười rạng rỡ nở trên khuôn mặt bám đầy bụi đỏ. Giữa ranh giới mong manh của sinh tử, tình đồng chí ấm áp và kiên cường hơn bất kỳ ngọn lửa nào.
Trong lòng đất lạnh, vật báu của cả tiểu đội là chiếc bật lửa tự chế làm từ vỏ đạn 12,7mm. Ngọn bấc thấm dầu hỏa cháy ngoi ngóp, chỉ đủ soi rõ những gương mặt trẻ măng. Dưới ánh sáng mờ tỏ ấy, họ truyền tay nhau từng kỷ vật: người lấy ra tấm ảnh gia đình đã mờ nét, người vuốt ve chiếc khăn thùa tự tay người yêu thêu hình bông hoa ban trắng gửi từ bến đò quê hương trước ngày nhập ngũ. Trong tiếng pháo gầm rú ngoài cửa hầm, họ cùng nhau thì thầm về ước mơ ngày hòa bình—người muốn làm thầy giáo uốn nắn từng nét chữ cho trẻ nhỏ, người muốn trở lại làm anh thợ máy, người hẹn ngày chiến thắng trở về làm đám cưới bên bến đò xưa.
Đột nhiên, tiếng còi hiệu lệnh vang lên dữ dội. Trận địa chuyển sang trạng thái xuất kích khẩn cấp. Rời lòng đất, họ bước vào cuộc chiến với tinh thần "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Bằng sự dũng cảm phi thường, những chiếc xe quân sự tháo bỏ đèn pha, chỉ để lại hai vệt sáng mờ như đom đóm dưới gầm, lao qua tọa độ lửa Cổng Trời trong cơn mưa pháo sáng. Trên các dòng sông, dưới trận mưa đạn quét, những người lính sẵn sàng lao xuống dòng nước xiết, một tay đỡ đầu đồng đội bị thương, một tay quạt nước vượt qua dòng sông sinh tử. Đôi dép cao SU cắt từ lốp xe đèo hàng mòn vẹt đế, quai đứt mấy lần lại được hàn bằng đinh ghim, đã cùng họ đạp bằng vách đá tai mèo, đi qua vạn dặm bão lửa để chứng kiến ngày đất nước trọn niềm vui.
Mấy mươi năm sau, chiến tranh lùi xa vào quá khứ. Ngọn lửa thời hoa lửa hào hùng năm xưa không hề tắt, mà lặng lẽ chảy vào những năm tháng bình yên.
Những người lính năm ấy giờ đã trở thành những cựu chiến binh tóc điểm bạc. Chiếc bật lửa vỏ đạn, đôi dép cao su mòn vẹt hay chiếc bút máy Kim Tinh chứa lá thư tình năm xưa nay được cẩn trọng đặt trong tủ kính—trở thành những "kỷ vật biết nói". Tạm gác lại quá khứ bão lửa, họ lại cùng thế hệ trẻ dầm mình dưới bùn sâu đào kênh dẫn nước trong những đêm đông rét mướt, hay kiên nhẫn "đi từng ngõ, gõ từng nhà" trên chiến dịch chuyển đổi số. Bằng đôi tay từng cầm súng, họ lại ân cần uốn nắn từng nét chữ cho con trẻ trong lớp học dã chiến, vận động nhân dân bắc những cây cầu bê tông nối liền hai bờ vui cho học sinh đến trường.
Mỗi dịp 22/12, đứng trước dãy núi đá vôi bạt trắng—nơi bao đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại—người cựu chiến binh già lại rót ngụm rượu nghìn trùng lên phiến đá tai mèo, giọt nước mắt lăn dài trên gò má nhăn nheo hòa vào làn sương mờ núi cao.
Trở về giữa đời thường, ông cẩn trọng tháo chiếc huy hiệu Quân đội nhân dân Việt Nam trên ngực áo, trao lại cho người cháu trẻ tuổi chuẩn bị lên đường nhập ngũ:
“Ngày xưa ông cùng đồng đội giữ đất, ngày nay các cháu giữ trời và biển. Hãy sống sao cho đáng với truyền thống quê hương!”
Cái ôm chặt giữa hai thế hệ dưới lá cờ Tổ quốc tung bay là lời khẳng định đinh ninh: Ngọn lửa yêu nước và tình đồng chí kiên cường của một thế hệ "không biết lùi bước" sẽ còn mãi cháy sáng, truyền qua muôn đời sau.


