Bài viết

"Bật mí" những bí mật về Thiếu tướng, Anh hùng LLVTND, nhà tình báo Đặng Trần Đức

Vĩnh Long09/06/2026Lê Duy Khánh (Đoàn xã Tân Hào)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đặng Trần Đức (19/10/1922 – 26/3/2004); quê tại Thanh Trì, Hà Nội), bí danh Ba Quốc, Nguyễn Văn Tá, là Thiếu tướng tình báo Quân đội nhân dân Việt Nam. Nguyên Ủy viên Thường vụ Đảng ủy, Cục trưởng Cục 12, Tổng cục II, Bộ Quốc phòng Việt Nam, phụ trách lực lượng tình báo phía Nam và Campuchia. Trước khi mất, ông là cố vấn cho Tổng cục trưởng Tổng cục Tình báo và tham gia Ban chỉ đạo Điệp báo Tổng cục.

Tháng 3/1945, ông tham gia Công an xung phong Việt Minh tại khu Hàng Trống, Hà Nội.

Tháng 5/1945, ông là Chủ tịch UBND cách mạng xã Thanh Trì (Hà Nội). Ông đã huy động nhân dân tham gia cuộc mít tinh ngày 19/8 tại Nhà hát lớn Hà Nội.

Sau đó ông Đức được điều về nội thành làm công an tham gia phá một số vụ án, trong đó có vụ phố Ôn Như Hầu.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông là Trung đội trưởng Công an thanh niên xung phong Mặt trận Việt Minh khu Khâm Thiên, Hà Nội.

Năm 1946, Mặt trận Hà Nội vỡ, ông Đức cùng vợ là bà Phạm Thị Thanh về Thanh Hóa. Sau đó được lệnh rút vào Đô Lương (Nghệ An), làm trưởng khu Đức Hòa.

Tháng 5/1949, ông trở về hoạt động điệp báo tại Hà Nội. Cấp trên giới thiệu ông với điệp báo Đặng Văn Hàm - con rể ông Đàm Y, quận trưởng quận 1 (Hàng Trống) là tay chân đắc lực của Tổng trấn Bắc Việt Nghiêm Xuân Thiện (sau năm 1975, ông Hàm được thăng quân hàm thiếu tá, rồi làm Trưởng ty thương binh tỉnh Ninh Bình).

Được cụ Đàm Y giúp, ông Đức che giấu được thân phận là Việt Minh, vào làm công an của chế độ Bảo Đại và sau đó xin làm Đồn trưởng Công an Từ Sơn (thuộc phía đối phương) rồi bắt liên lạc với cấp trên.

Năm 1954, hiệp định Genève ký kết. Ông Đức được lệnh theo Pháp vào Nam hoạt động.

Để giúp ông Đức lập lý lịch mới, vợ chồng cụ Đàm Y đã sắp xếp cho ông Đức cưới cháu họ của mình là bà Ngô Thị Xuân, có bố theo Công giáo và làm công chức cho Pháp.

(Cụ ông Đàm Y mất năm 1974 tại Sài Gòn. Sau này 2 vợ chồng cụ đều được công nhận lại tư cách Điệp báo viên của Tình báo Quốc phòng).

Vào Nam ông Đức làm kế toán tại Nha Công an Nam phần. Nhờ biết Pháp đang có kế hoạch chuyển số vàng lớn về nước, ông đã báo cho Trưởng ban công tác đặc biệt Phủ Tổng thống là Trần Kim Tuyến. Nhờ đó ông được chuyển về ban công tác đặc biệt Phủ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, đặc trách việc thu thập thông tin buôn lậu vàng. Sau sự việc này, ông chính thức được điều về Sở Nghiên cứu chính trị - xã hội do Trần Kim Tuyến đứng đầu. Trở thành chuyên viên bậc 3 của Sở Nghiên cứu chính trị, ông Đức tập trung nghiên cứu công việc của cơ quan này và khai thác thông tin cần thiết. Ông làm việc tận tụy, chu đáo để tạo lòng tin với Trần Kim Tuyến.

Năm 1956, quân Việt Nam Cộng hòa đánh phá ác liệt các "cơ sở nằm vùng của Việt Cộng". Người chỉ huy trực tiếp của ông Đức là Ba Hội cũng bị bắt.

Một đặc khu ủy viên Sài Gòn – Gia Định nội thành là Huỳnh Kim Hiệp đã phản bội, báo tất cả danh sách đặc khu ủy, gồm bí thư và 9 đặc khu ủy viên, nơi ở và các hoạt động hằng ngày của họ. Bằng sự khôn khéo của mình, ông đã báo cáo cho bí thư khu ủy Sài Gòn – Gia Định lúc đó là ông Nguyễn Văn Linh, người sau này là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam và các khu ủy viên kịp thời trốn thoát.

Tháng 5/1959, biết được chính quyền Sài Gòn có kế hoạch ám sát Hoàng thân Sihanouk, ông đã bố trí cho bom nổ lệch giờ, kịp thời cứu mạng cho vị Hoàng thân này. Sau vụ này, Hoàng thân Sihanouk công khai ủng hộ Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Ông cho phép Bộ đội Giải phóng được sử dụng lãnh thổ Campuchia để lập căn cứ, vận chuyển vũ khí, lương thực... chi viện cho miền Nam.

Năm 1960 ông Đức ngày càng thâm nhập sâu vào Sở Nghiên cứu chính trị và được Trần Kim Tuyến đặc biệt tin tưởng. Trong thời gian này, ông đã phát hiện hồ sơ về 7 ổ gián điệp do Mỹ cài ở miền Bắc. Ông đã chụp ảnh tất cả những hồ sơ này và gửi về căn cứ. Kết quả những ổ gián điệp này đã bị tiêu diệt sạch.

Sau khi Diệm sụp đổ, qua những năm biến động chính trị của miền Nam, ông Đức tiếp tục thâm nhập vào Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo, có lúc ông lên đến chức trợ lý cho Cục trưởng Tình báo Quốc nội, kiêm Trưởng ban Đoàn thể. Nhờ vậy Ba Quốc (ông Đức) được tiếp cận với hầu hết các tài liệu quan trọng trong mạng lưới tình báo của Việt Nam Cộng hòa.

Năm 1969, xảy ra vụ án Vũ Ngọc Nhạ, mạng lưới tình báo Hà Nội tại Sài Gòn có nguy cơ bị vỡ, phòng tình báo miền phải rút cụm trưởng H67 về cứ, và đánh giá lại công tác tình báo. Tuy nhiên ông Đức vẫn chưa bị lộ.

Thời gian này ông Đức đã tiếp cận được với Phạm Xuân Ẩn (một điệp viên Hà Nội đang hoạt động dưới vỏ bọc nhà báo) để khai thác tin tức. Cả hai ông đều không biết đối phương là đồng đội. Sau đó cấp trên đã lệnh cho ông Đức cắt đứt quan hệ với ông Ẩn, viện cớ ông Ẩn là người của CIA.

Năm 1974, trước nguy cơ bị lộ do giao liên bị bắt, ông được lệnh rút ra mật cứ, rồi từ đó theo đường mòn Hồ Chí Minh ra Bắc. Về Hà Nội, ông báo cáo tình hình cho Bộ Chính trị, và được nhận quân hàm Trung đoàn phó tương đương thiếu tá.

Sau năm 1975, kết thúc chiến tranh ông Đức tiếp tục công tác trong ngành Tình báo quốc phòng và đã đóng góp lớn vào thành công trong chiến tranh tây nam. Năm 1977, cụm điệp báo Hà Tiên/Kiên Giang mà ông là cụm trưởng đã móc nối được với Heng Samrin - tư lệnh sư đoàn 4 Khmer Đỏ, nắm được ý đồ của chúng coi "Việt Nam là kẻ thù truyền kiếp". Do đó Trung ương Đảng xác định, đây không chỉ là "xung đột biên giới" đơn thuần mà là cuộc chiến tranh Bảo vệ Tổ Quốc. Năm 1978, ông Heng Samrin tiến hành đảo chính không thành công ở Campuchia, Việt Nam buộc phải có biện pháp cứng, phản công trên toàn biên giới tây nam với hơn 25 vạn quân và tiến vào Phnom Penh lật đổ chế độ Khmer Đỏ.

Tháng 11 năm 1978, trung tá Đặng Trần Đức vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT.

Khi quân ta tiến vào Campuchia, ông là cụm trưởng tình báo địa bàn Koh Kong, phụ trách khu vực Nam Campuchia.

Sau đó ông công tác tại đoàn 817 - cục 2, đơn vị tình báo chính cho lực lượng quân sự Việt Nam tại Campuchia. Năm 1981, lúc này là thượng tá, ông được giao nhiệm vụ là Đoàn phó Đoàn 817 - phụ trách công tác phản tình báo, bao gồm tiêu diệt và bóc gỡ hệ thống Tình báo của Khmer Đỏ tại Campuchia.

Trong thời kỳ 10 năm ở Campuchia, ông là người tổ chức và chỉ huy Tình báo Việt Nam, phá vỡ các mạng lưới tình báo Khmer Đỏ để lại, triệt phá các kênh ngầm viện trợ cho chúng do liên minh Thái-Mỹ-Trung Quốc đứng đầu; và hỗ trợ đắc lực các tin tức tình báo cho Bộ Tư lệnh Quân Tình nguyện Việt Nam tại Campuchia.

Sau khi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, năm 1990 ông Đức được thăng quân hàm Thiếu tướng, lúc này là đoàn trưởng đoàn 817 và sau đó là Cục trưởng Cục 12, phụ trách lực lượng tình báo phía Nam và Campuchia.

Trong giai đoạn này, Cục 12 là đơn vị tình báo đầu tiên, tổ chức được hệ thống giao thông, đưa người trở lại Campuchia sau khi Việt Nam rút quân. Tháng 9/1997, đồng Thủ tướng Norodom Ranariddh bị lật đổ, phe thân Việt Nam lên nắm quyền. Đến năm 1998, Khmer Đỏ chính thức tan rã, Pol Pot chết tháng 4 còn Khieu Samphan đầu hàng quân Hun Sen tháng 12 cùng năm, vấn đề Khmer Đỏ được giải quyết.

Trong 2 năm biến động, Cục 12 dưới sự chỉ đạo của Đặng Trần Đức (lúc này ông không còn là cục trưởng) đã thành lập một đơn vị mới đứng chân tại Campuchia để giúp chính quyền thân Việt Nam.

Với những thành tích đó, tháng 1 năm 1999, thuộc cấp của ông là Nguyễn Chí Vịnh được bổ nhiệm làm Tổng cục phó, còn Đặng Trần Đức được Cố vấn Ban chấp hành Trung ương phụ trách Vấn đề Campuchia,Lê Đức Anh đề nghị cho giữ chức Tổng cục trưởng - đứng đầu lực lượng Tình báo Quốc phòng. Nhưng vì tuổi cao, ông Đức từ chối, và tín nhiệm Nguyễn Chí Vịnh giữ chức Tổng cục trưởng.

Ông Đặng Trần Đức là người duy nhất đi lên từ tình báo viên, trở thành cán bộ tình báo rồi lãnh đạo tình báo quốc phòng sau chiến tranh.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn