BẦU TRỜI HÀ NỘI
RỒNG LỬA TRÊN BẦU TRỜI HÀ NỘI
Những ngày cuối tháng 12 năm 1972, không khí ở miền Bắc Việt Nam sục sôi lửa đạn. Đế quốc Mỹ mở đợt tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B-52 mang tên chiến dịch "Linebacker II", nhằm hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng và đưa miền Bắc "trở về thời kỳ đồ đá". B-52 – được mệnh danh là "siêu pháo hạm bay" hay "biểu tượng sức mạnh không lực Hoa Kỳ" – bay ở độ cao trên 10.000 mét, được bảo vệ dày đặc bởi hàng trăm máy bay tiêm kích F-4, F-105 và hệ thống gây nhiễu điện tử hiện đại.
Mỹ tin rằng không quân Việt Nam với những chiếc MiG-21 nhỏ bé không thể nào tiếp cận, chứ chưa nói đến việc bắn hạ "pháo hạm bay" này trên không.
Đêm ngày 27 tháng 12 năm 1972, bầu trời Hà Nội rực đỏ bởi ánh pháo sáng và những quầng lửa bom trọng phá. Tại sân bay dã chiến Yên Bái – nơi mặt đường băng bị cày xới nát vụn sau nhiều đợt dội bom, Thượng úy phi công Phạm Tuân thuộc Đại đội 5, Trung đoàn Không quân 921 lặng lẽ bước vào khoang lái chiếc MiG-21 mang số hiệu 5121.
"Rồng lửa xuất kích! Bằng mọi giá phải tiếp cận mục tiêu!" – Mệnh lệnh từ Sở chỉ huy vang lên qua tai nghe.
Đúng 22 giờ 22 phút, chiếc MiG-21 xé gió cất cánh trong điều kiện thiếu ánh sáng nghiêm trọng. Màn đêm bao trùm lấy khoang lái, xung quanh Phạm Tuân là một biển nhiễu điện tử trắng xóa trên màn hình ra-đa. Địch thả hàng triệu sợi nhiễu kim loại để làm mù mắt các trạm ra-đa mặt đất và máy bay ta.
Bằng bản lĩnh và kinh nghiệm dày dặn, Phạm Tuân điều khiển chiếc MiG-21 bay ép sát địa hình, luồn lách qua các hàng rào tiêm kích F-4 đang lùng sục ráo riết. Khi nhận được tín hiệu dẫn đường từ trạm ra-đa mặt đất, anh nhấn ga phụ trội, cho máy bay vọt lên độ cao hơn 10.000 mét – nơi đội hình B-52 đang ung dung tiến vào vùng trời Hà Nội.
Khi vọt qua tầng mây dày, Phạm Tuân phát hiện ba đốm sáng màu vàng nhạt đang di chuyển song song. Đó chính là chùm đèn tín hiệu của tốp B-52 địch.
"Mục tiêu phía trước, khoảng cách 10 kilômét!" – Tiếng chỉ huy từ mặt đất nhắc nhở.
Phạm Tuân nhanh chóng khóa mục tiêu. Chiếc B-52 khổng lồ hiện rõ trong kính ngắm. Tuy nhiên, các máy bay F-4 hộ tống đã phát hiện ra chiếc MiG-21 và bắt đầu lao dồn tới, phóng tên lửa hòng tiêu diệt anh.
Thời gian chỉ tính bằng từng phần trăm giây. Nếu bắn quá sớm, tên lửa sẽ bị nhiễu lệch hướng; nếu chậm một nhịp, F-4 địch sẽ bắn hạ anh ngay lập tức. Phạm Tuân giữ đôi tay cực kỳ vững chãi trên cần lái, bình tĩnh ép máy bay áp sát mục tiêu ở khoảng cách cực ngắn – chỉ vỏn vẹn 2 kilômét.
"Nhắm thẳng mục tiêu... Bắn!"
Anh nhấn nút phóng liền hai quả tên lửa không đối không Tên lửa K-13.
Hai dải lửa da cam xé rách màn đêm đen thẫm, lao thẳng vào thân chiếc B-52. Một tiếng nổ dữ dội rung chuyển cả tầng không. Khối thép khổng lồ nặng hàng trăm tấn bùng cháy thành một ngọn đuốc lớn, rơi tự do xuống vùng Phủ Lợi, Vĩnh Phú (nay là Vĩnh Phúc).
Trận đánh diễn ra quá nhanh chóng khiến phi hành đoàn B-52 và dàn tiêm kích F-4 hoàn toàn bàng hoàng. Ngay sau khi tiêu diệt mục tiêu, Phạm Tuân nhanh chóng kéo cần lái, thực hiện động tác lộn ngửa máy bay lao xuống độ cao thấp để né tránh tên lửa đáp trả của địch, rồi hạ cánh an toàn xuống sân bay Yên Bái trong sự reo hò vỡ òa của đồng đội.
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh thế giới, một chiếc "siêu pháo hạm bay" B-52 bị bắn hạ trong một trận không chiến ban đêm bởi phi công Không quân Nhân dân Việt Nam.
Chiến công lẫy lừng của Phạm Tuân và các đồng đội trong 12 ngày đêm lịch sử đã đập tan hoàn toàn cuộc tập kích chiến lược của không quân Mỹ, buộc chính quyền Washington phải ký Hiệp định Paris vào đầu năm 1973, rút toàn bộ quân đội về nước.
Phạm Tuân được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Tên tuổi của anh cùng chiếc MiG-21 số hiệu 5121 đã trở thành huyền thoại, viết nên một trang sử vàng kiêu hãnh về trí tuệ, lòng dũng cảm của con người Việt Nam giữa bầu trời thời hoa lửa.



