BÂU TRỜI HÀ NỘI VÀ CÚ KÉO CẦN NGUYỄN VĂN CỐC

Trong lịch sử không chiến thế giới, cái tên Nguyễn Văn Cốc đã trở thành một huyền thoại khiến giới phi công Mỹ phải kính nể. Với 9 lần bắn hạ máy bay địch trên bầu trời miền Bắc, ông là phi công có hiệu suất chiến đấu cao nhất trong chiến tranh Việt Nam. Nhưng đằng sau những con số chiến công lẫy lừng ấy không phải là sự hiếu chiến, mà là bản lĩnh kiên cường, óc sáng tạo vượt bậc cùng một tình yêu quê hương da diết của người lính không quân tuổi đời mới mươi lăm, hai mươi. Mỗi lần kéo cần lái vút lên tầng mây là một lần ông mang theo niềm tin của hàng triệu người dân dưới mặt đất, viết nên khúc tráng ca trên bầu trời thời hoa lửa.
Nguyễn Văn Cốc sinh ra tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang – vùng đất giàu truyền thống cách mạng. Ngay từ nhỏ, chứng kiến cảnh máy bay Pháp rồi sau này là máy bay Mỹ trút bom xuống các làng quê, hủy hoại cuộc sống bình yên của người dân, trong lòng cậu học trò nghèo đã nuôi dưỡng một ước mơ cháy bổng: một ngày nào đó sẽ làm chủ bầu trời để bảo vệ quê hương. Khi được tuyển chọn vào lực lượng Không quân Nhân dân Việt Nam và gửi sang Liên Xô đào tạo lái máy bay tiêm kích MiG-21, Nguyễn Văn Cốc đã lao vào học tập với tất cả quyết tâm. Ông nuốt từng bài giảng, rèn luyện thể lực khắc nghiệt để làm chủ cỗ máy chiến đấu hiện đại bậc nhất thời bấy giờ.
Trở về nước giữa lúc đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc dữ dội, Nguyễn Văn Cốc cùng đồng đội ở Trung đoàn Không quân 921 (Đoàn Sao Đỏ) bước vào những trận chiến không cân sức. Không quân Mỹ huy động hàng trăm máy bay F-4 "Con ma", F-105 "Thần sấm" cùng các phi công sừng sỏ tích lũy hàng ngàn giờ bay. Trong khi đó, không quân ta số lượng máy bay ít hơn nhiều, kinh nghiệm thực chiến còn non trẻ. Nhưng cái mà các phi công Việt Nam có, và kẻ thù không thể có, chính là thế trận lòng dân dưới mặt đất và lòng dũng cảm không biết sợ hãi.
Trận đánh ngày 30 tháng 4 năm 1967 đã đi vào giáo trình không chiến như một kinh điển về nghệ thuật đánh chặn. Hôm ấy, biên đội MiG-21 gồm Nguyễn Ngọc Độ và Nguyễn Văn Cốc nhận lệnh cất cánh từ sân bay Nội Bài đánh chặn tốp F-105 của Mỹ đang tiến vào vùng trời Thái Nguyên. Trong bóng mây mịt mù, phát hiện đối phương có số lượng đông hơn gấp nhiều lần và được hộ tống bởi các tiêm kích F-4, Nguyễn Văn Cốc không hề nao núng. Ông thực hiện cú ngoặt gắt ép sát máy bay địch, lợi dụng điểm mù radar của đối phương để bám đuổi. Khi chiếc F-105 rơi vào tâm ngắm, ở cự ly chỉ vỏn vẹn hơn một cây số, ông bình tĩnh ấn nút phóng tên lửa. Một quầng lửa bùng cháy xé tan không trung, chiếc "Thần sấm" đắt giá rơi tự do xuống dải núi rừng Bắc Giang.
Không dừng lại ở đó, trong trận đánh ngày 7 tháng 5 năm 1967, khi chiếc MiG-21 của ông bị 4 chiếc F-4 bao vây gắt gao, Nguyễn Văn Cốc đã thực hiện một động tác nhào lộn ngửa lòng bàn tay cực kỳ hiểm hóc – một kỹ thuật bay cực kỳ mạo hiểm ở tốc độ siêu thanh. Chuyển từ thế bị săn đuổi thành kẻ săn mồi, ông phóng quả tên lửa thứ hai, hạ gục thêm một chiếc F-4 trước sự kinh hoàng của phi công Mỹ. Bản lĩnh "nhẹ nhàng như đi dạo trên mây nhưng quyết đoán như tia chớp" của Nguyễn Văn Cốc đã trở thành nỗi ám ảnh cho Không lực Hoa Kỳ trong suốt những năm 1967 - 1968.
Với những chiến công phi thường, Nguyễn Văn Cốc đã vinh dự được Bác Hồ 9 lần đeo huy hiệu của Người – một phần thưởng cao quý mà ít ai có được. Tuy nhiên, khi nói về những chiến công lẫy lừng của mình, vị Anh hùng tuổi đôi mươi năm ấy luôn khiêm tốn chia sẻ rằng, mỗi quả tên lửa ông phóng đi thành công đều ngấm đượm mồ hôi của các thợ máy mặt đất, sự chỉ đạo tài tình của Sở chỉ huy và máu xương của bao đồng đội đã ngã xuống để bảo vệ từng sào đường băng. Tên tuổi của Nguyễn Văn Cốc không chỉ là niềm tự hào của Không quân Nhân dân Việt Nam, mà còn là biểu tượng cho trí tuệ và bản lĩnh của tuổi trẻ Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.



