Báu vật để lại
Tháng 11-1979, Trung đoàn bộ binh 812 chúng tôi đang làm nhiệm vụ ở Sa-ra-ka-đao thì được lệnh hành quân gấp về Bắc Com-riêng (Cam-pu-chia) nhận nhiệm vụ truy quét tàn quân Pôn Pốt...
Đêm trước hành quân, tôi và Trung đội phó Nguyễn Ngọc Lân giăng võng bên bờ suối. Lân nói: “Hết chiến tranh chúng mình được về quê, sẽ sang nhà Phụ chơi ”. Tôi hào hứng: “Nhất định rồi, chúng mình sẽ cùng về nhé!”.
Sáng 30-11-1979, đơn vị tới vị trí trú quân tại điểm cao 267, 189 và 231, Tiểu đoàn trưởng Dụ giao nhiệm vụ cho tôi dẫn Lân và 15 tân binh đi tìm nước. Núi rừng âm u, đi mãi hơn 2 tiếng sau chúng tôi mới gặp khu nhà cháy của địch.
Tôi và Lân mở bản đồ xác định tọa độ và nhận ra gần đó có con suối từ Thái Lan chảy qua. Mọi người lấy nước xong, Lân nói: “Cắt rừng theo đường khác về cho gần và tránh địch phục kích”. Tôi chần chừ: “Trời gần tối rồi đi đường mới vất vả, nguy hiểm và dễ lạc đường”. Lân bảo: “Vậy lên kia mình xem lại bản đồ”, rồi cầm cây dò mìn đi trước, tôi chỉ kịp dặn: “Cẩn thận anh Lân”.
Bỗng một tiếng nổ đinh tai, khói bụi mù mịt hất tôi và 3 đồng chí ở gần văng ra. Tôi lao về phía tiếng nổ. Trên mép đường “bò chạy” Lân nằm ngửa, ổ bụng thủng ruột tràn ra ngoài, hai đùi bị tiện đứt, máu phun xối xả. Anh nói như đứt hơi: “Địch đến đấy, cho anh em rời khỏi vị trí này!”.
Tôi hô to: “Chuẩn bị chiến đấu”, rồi xổ tung ba lô tìm được 3 cuộn băng, tháo chiếc thắt lưng đeo bình tông nước bên người anh đầy máu quẳng vào bụi. Một chân Lân da còn dính với đùi trên, đành phải chặt đứt để băng bó, nhét ruột vào ổ bụng dùng băng quấn chặt lại. Lân năn nỉ: “Đừng băng nữa mất thời gian, tôi không sống được đâu, chạy đi!”.
Tôi nói: “Anh yên tâm để tôi băng, anh còn phải chỉ huy nữa chứ!”. Không có võng, tôi cắt hai mép dưới ba lô, bế Lân cho vào trong, thò hai đùi cụt qua hai lỗ thủng rồi khoác anh lên lưng, lệnh cho hai chiến sĩ mỗi người vác một cái chân của Lân. Lân ngồi trong ba lô thều thào: “Cho anh em rút ngay!”. Đi một hồi thấy một đôi gà rừng bay là là mặt đất, gặp chúng tôi nó bay ngược lên cao, Lân nói rất khẽ, thều thào: “Phụ, có địch”.
Tôi ra hiệu cho phía sau xuống suối cạn. 5 tên địch mang súng AK và B40 đi tới. Lân nói nhỏ: “ Để địch vào gần”… Hai bên cùng nổ súng, khói đạn mù mịt, B40 nổ xé mang tai, cây cối gãy đổ ào ào. Địch tháo chạy, để lại 2 xác chết và 2 khẩu AK. Lân cũng tắt thở, mắt anh trừng trừng nhìn về phía địch. Tôi vuốt mắt, xốc anh lên lưng cơ động ra khỏi suối cạn thì đạn cối của địch tới tấp nã tới...Trung đoàn truy điệu Lân theo nghi lễ chiến trường rồi chuyển thi hài anh về tuyến sau trong sự tiếc thương vô hạn của đồng đội và nhân dân Cam-pu-chia. Năm 1981 tôi về nước học ở Trường Sĩ quan Lục quân 2, trước khi về tôi tới tìm mộ Lân ở Bát-tam-bang, nhưng không thấy…
Đông Tà Cô mùa khô 1986
Năm 1986, tôi trở lại chiến trường Cam-pu-chia về đơn vị cũ khi truy quét địch khu vực Bắc Com-riêng- Đông Tà-cô. Một lần đào công sự, tôi lôi lên một dây lưng có bình tông nhựa méo mó có dòng chữ Nguyễn Ngọc Lân, giật mình nhớ lại lần lấy nước 7 năm trước.
Sau này về công tác ở Trường Sĩ quan Lục quân 2 (Đại học Nguyễn Huệ), được trên và đồng đội cũ tạo điều kiện, tôi về gia đình Lân thì không còn ai, tới Sở Lao động- Thương binh và Xã hội Khánh Hòa tìm được giấy báo tử. Trong suốt những năm sau này, tôi đi hết các nghĩa trang liệt sĩ, từ Bát-tam-bang, Tây Ninh, Cầu Sập, Bình Phước, Bình Dương, Đắc Lắc, Biên Hòa, Long Thành… điện cho các ngành chức năng của địa phương với hy vọng cháy bỏng: Phải tìm bằng được phần mộ của Lân.
Thủ Đức mùa khô 2010
Sáng 30-4-2010, tôi nhảy xe lên Bình Phước tìm mộ Lân, mệt quá ngủ quên nên xe đã đưa tôi lên gần tới Đắc Lắc. Tỉnh dậy ngược về, qua Thủ Đức lúc chờ sửa xe, tôi vào nghĩa trang liệt sĩ Thủ Đức, chị quản trang chỉ cho tôi trên màn hình vi tính: “Liệt sĩ Nguyễn Ngọc Lân sinh 1956 tại Tân Sinh- Cam Thành- Cam Ranh…”. Tôi reo to: “Tìm thấy rồi, tìm thấy rồi anh Thạnh, anh Dũ Nhi ơi, các anh ơi”, nước mắt tôi trào ra rơi lã chã, mọi người ùa lại cảm động bắt tay.
Mộ anh nằm khu M23, hàng 83, số 2. Tay run run đốt nhang, mắt nhòa đi, trái tim nức nở, tôi đã nói với anh trong tiếng nấc ngẹn ngào: anh Lân ơi! Thế là tôi đã tìm được anh, chúng tôi đã tìm được anh, dẫu thời gian đã hơn một phần tư thế kỉ. Chúng tôi tự hào về anh và mãi mãi anh là người anh hùng trong lòng chúng tôi. Chiếc dây lưng của anh, báu vật của tôi sẽ để trên bàn thờ anh để minh chứng cho con cháu mai sau thêm hiểu, những người lính Quân tình nguyện Việt Nam đã chiến đấu đến giọt máu, hơi thở cuối cùng để cứu giúp nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng.



