Bài viết

Bẫy chông của du kích thôn Nhân Kiệt

Gia Lai17/05/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Bẫy chông của du kích thôn Nhân KiệtChông 4 cạnh của du kích thôn Nhân Kiệt (xã Vạn Thắng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương) đã sử dụng trong trận chống càn ngày 6 và 7/2/1954, làm thiệt hại nặng một tiểu đoàn địch thuộc binh đoàn cơ động số 3 (GM3) của thực dân Pháp. Hiện vật được lưu giữ và phát huy giá trị tại Bảo tàng Quân khu 3.

Thôn Nhân Kiệt thuộc xã Vạn Thắng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương gồm có 5 xóm. Xóm 1 ở phía Bắc đê, xóm 2 đến xóm 5 ở phía Nam bờ đê sông Hồng. Cũng như mọi thôn xóm khác ở đồng bằng Bắc Bộ, làng xóm Nhân Kiệt có lũy tre xanh bao bọc, kín đáo là vật cản tự nhiên. Trong thôn có nhiều ao to, nhỏ, chia cắt thông thành từng cụm, tạo nên những nhánh đường quanh co, uốn lượn, hiểm trở, thuận tiện cho việc giấu quân, gài chông, mìn, xây dựng thế trận làng chiến đấu hiểm hóc, như cái bẫy giăng sẵn chờ địch. Về lực lượng địch, ngày 6/2/1954, chúng dùng lực lượng lớn thuộc binh đoàn cơ động số 3 (GM3) có 8 xe tăng và máy bay yểm trợ tiến công đánh chiếm khu vực bắc Bình Giang. Khi đến cánh đồng Nhân Kiệt vào lúc 6 giờ sáng chúng lập tức triển khai chiếm lĩnh khu Mả Giàu, Chùa Cả để tiến công vào thôn Nhân Kiệt, hòng triệt phá làng kháng chiến, tiêu diệt lực lượng du kích và bộ đội đóng quân trên địa bàn, xua giãn lực lượng ta, bảo vệ cho tuyến hành lang Đường số 5 của chúng. Lực lượng du kích thôn Nhân Kiệt có 46 người (34 nam, 12 nữ) 4 người là cán bộ chỉ huy xã, thôn đội. Du kích đều đã trải qua chiến đấu bám đất, giữ làng chống địch cán quét. Toàn thôn có 282 hộ với 1.619 nhân khẩu. Suốt trong thời gian mùa khô, nhân dân và các đoàn thể đã tích cực chuẩn bị hơn 1.000 cọc tre và bàn chông cho du kích. Mỗi tháng xã đội tổ chức hai lần báo động cho du kích và nhân dân thực tập triển khai chiến đấu và phòng tránh. Mỗi du kích đều có 3 hầm bí mật, ngoài ra còn có sẵn hầm cho bộ đội đến phối hợp chiến đấu. Lương thực thường xuyên dự trữ trong hầm từ 4 đến 6 ngày. Vào lúc 5 giờ ngày 6/2/1954, pháo địch ở Sặt và Ghẽ bắn mãnh liệt vào thôn Nhân Kiệt. 6 giờ chúng cho 8 xe tăng dẫn bộ binh vào chiếm lĩnh khu vực Mả Giàu và Chùa Cả. Ban chỉ huy xã đội lập tức thông báo cho các tiểu đội: Địch đã hành quân theo đúng phán đoán của ta. Các bộ phận bố trí tác chiến theo phương án đã định, giữ bí mật, bình tĩnh đợi địch đến thật gần mới được nổ súng. 7 giờ, địch tiến công từ Chùa Cả vào xóm 4. Vừa đến gần Quán Đá, Tiểu đội 1 tập trung bắn mãnh liệt vào đội hình địch đang tiến quân trên cánh đồng trống khiến địch bất ngờ, phải lùi về sau các bờ ruộng. Địch huy động xe tăng nhưng do địa hình nhiều ao, hồ, hào sâu, mìn ngăn chặn, không vượt lên được. Chúng phải dừng lại dùng hỏa lực trên xe bắn vào các hỏa điểm của ta để chi viện cho bộ binh. Du kích và bộ đội ta dựa vào bờ tre, giao thông hào bắn mãnh liệt, gây cho địch thiệt hại lớn. Chúng buộc phải lùi lại củng cố, gọi pháo bắn và quân phía sau lên tăng viện mới tiếp tục tiến công.
Bẫy chông 4 cạnh do du kích thông Nhân Kiệt sử dụng trong cuộc chống càn ngày 6 và 7/2/1954 hiện trưng bày tại Bảo tàng Quân khu 3. Ảnh Văn Nhuận. 7 giờ 20, địch ở khu Mả Giàu tổ chức tiến công theo trục đường vào làng. Khi chúng còn cách đình làng khoảng 100 mét, đồng chí Lê Văn Vãng chỉ huy Tiểu đội 3 đồng loạt nổ súng. Địch bị đánh bất ngờ, phải gạt ra hai bên đường và xuống ruộng tìm địa hình có lợi để ẩn nấp và triển khai hỏa lực bắn trả lại ta. Cùng lúc đó lực lượng du kích ở xóm 2 và xóm 3 dùng hỏa lực bắn tạt sườn kiềm chế địch. Quân Pháp tiếp tục dùng xe tăng và pháo binh chi viện, địch tổ chức xung phong vào xóm 5. Tiểu đội 2 bố trí ở đây do đồng chí Bùi Danh Tông chỉ huy bắn mãnh liệt vào đội hình xung phong của địch, buộc chúng phải lùi lại gọi pháo bắn chế áp nhiều loạt, sau đó cho 4 xe tăng dẫn bộ binh tràn vào xóm 5. Vừa đi chúng vừa bắn như đổ đạn vào trận địa ta. Quân ta chống trả quyết liệt, nhưng lực lượng địch đông lại có xe tăng và pháo binh yểm hộ, nên cuối cùng chúng đã chiếm được xóm 5. Cánh quân địch ở Chùa Cả, Quán Đá sau khi củng cố, đã tiếp tục tiến công đợt 2 vào xóm 4. Lúc này lực lượng địch được tăng cường mạnh, chúng tập trung bắn phá dữ dội vào trận địa của ta. Công sự bị cày xới, lũy tre xơ xác. Địch ào ạt xung phong chiếm được phía Nam xóm 4. Du kích và bộ đội lợi dụng địa hình làng mạc quen thuộc luồn qua các nhà, khóm tre, bờ ao đánh vào bên sườn địch, làm cho chúng hoang mang, luôn phải đề phòng. Khi quân Pháp chiếm được xóm 5, chúng tiếp tục tiến sang xóm 2. Du kích tiếp tục dựa vào địa hình, liên tiếp nổ súng tập kích địch, nhất là các khu vực địch tập trung. Lực lượng của ta rút về cố thủ ở xóm 2, dùng hỏa lực ngăn chặn các ngả đường, ngõ xóm. Du kích luồn qua các căn nhà, bờ tre, vòng sang hai bên sườn đánh vào đội hình địch khiến cho chúng hoang mang lúng túng đối phó với quân ta thoắt ẩn, thoắt hiện, lúc náo bên đông, lúc đánh bên tây, không biết đâu để phòng tránh. Ở hướng tiến công trên trục đường phía sau đình, từ khi có 4 xe tăng lên mở đường và pháo binh phía sau yểm hộ, quân địch ồ ạt xung phong, chiếm được khu đình làng làm bàn đạp tiến công vào các xóm. Địch ở xóm 5 sang phối hợp tràn sang đánh chiếm được xóm. Du kích và bộ đội ở xóm 3, xóm 1 chiến đấu ngăn chặn địch quyết liệt trên các ngả đường làm chúng phải chùn bước, xe tăng phải dừng lại ở đầu làng dùng hỏa lực bắn chi viện cho bộ binh tiếp tục tiến. Nhưng du kích đã luồn qua các ngõ ngách, đánh quần lộn với địch khiến cho chúng thất điên bát đảo, buộc phải co lại để đối phó và chờ tăng thêm lực lượng mới dám vào các khu phía trong xóm 1 và xóm 2. Đến lúc này, đồng chí Xã đội trưởng và Chính trị viên Xã đội nhận định: Nếu ta cứ đánh giằng co kéo dài, bọn địch ở các xóm tràn sang thì không còn đường rút lui, nên cho anh em rút xuống hầm bí mật. Cán bộ chỉ huy kiểm tra kỹ từng hầm, xóa hết dấu vết để địch không phát hiện được, rồi mới về vị trí của mình. Quân địch chiếm được các xóm, tỏa ra lục soát, đốt phá. Ở xóm 2 do bị ta đánh và ngăn chặn quyết liệt, đến 12 giờ ngày 6/2 chúng mới vào được, thì du kích và bộ đội đã rút hết xuống hầm bí mật. Chúng lùng sục suốt 3 tiếng đồng hồ, nhưng không phát hiện được một hầm bí mật nào của ta. Đêm ngày 6/2, địch đóng quân lại trong thôn Nhân Kiệt. Lúc 16 giờ, bọn địch ở xóm 1 rút hết sang xóm 2. Thấy địch đã rút, anh chị e ở du kích xóm 1 đội hầm lên tập hợp, liền sang thôn Tuấn Bắc bên cạnh liên hệ với du kích phối hợp tổ chức tập kích quân địch đang đóng ở Nhân Kiệt. Nhưng khi hành quân đến đê thì gặp trận mưa lớn nên kế hoạch tập kích không thành. Sáng ngày 7 tháng 2, lực lượng địch còn lại ở Nhân Kiệt đốt phá, lục soát tìm hầm nhưng không phát hiện được gì. Đến 13 giờ chúng đành bỏ cuộc thu quân rút lui. Nghe tin địch rút quân theo hướng Bắc, du kích của hai thôn Tuấn Bắc và Nhân Kiệt nhanh chóng vận động đánh tạt sườn quân địch rút lui. Tuy nhiên, quân Pháp đổi hướng rút quân nên lực lượng du kích không theo kịp. Dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân hiểm hóc, du kích thôn Nhân Kiệt đã phối hợp chiến đấu với một bộ phận nhỏ bộ đội địa phương bám đất bám làng, đánh thiệt hại nặng một Tiểu đoàn khinh quân cơ động của địch. Trận đánh càn đã nâng cao tinh thần chiến đấu, lòng tự tin và khả năng chiến đấu của du kích xã Vạn Thắng, thự sự làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, giữ làng, chống càn thắng lợi. Bẫy chông 4 cạnh gắn với trận chống càn của du kích thôn Nhân Kiệt, hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Quân khu 3 mang số đăng ký BTQK3: 1057-KL-249 là hiện vật tiêu biểu cho trận đánh này, thu hút đông đảo khách tham quan./.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Bẫy chông của du kích thôn Nhân Kiệt | Câu chuyện thời hoa lửa