BCH Đoàn phường (5)
Đầu tháng 7/1972, chỉ chưa đầy 2 tháng huấn luyện quân sự “thần tốc” tại xã Kỳ Thượng (huyện Kỳ Anh cũ), ông Hoành được biên chế vào Trung đoàn 18 - Sư đoàn 325 (tiền thân của Quân đoàn 2), hành quân vào Quảng Trị. Đơn vị của ông đến khu vực Ngã ba Sòng (phía Bắc thị xã Đông Hà, Quảng Trị) vào giữa tháng 7/1972. Cảnh tượng hoang tàn, đổ nát báo hiệu một cuộc chiến sinh tử, khốc liệt.
“Chỉ cách sông Thạch Hãn 20km mà phải mất 3 ngày 3 đêm chúng tôi mới đến được bờ sông vì địch điên cuồng đánh chặn. Khi đang kết bè vượt sông thì đơn vị của tôi bị địch phát hiện, tập kích, đồng chí tiểu đoàn trưởng, chính trị viên cùng nhiều chiến sỹ hy sinh ngay khi chưa kịp bắt đầu trận đánh chính thức. Chúng tôi khi ấy mới mười chín, đôi mươi, gần như chưa có kinh nghiệm chiến trận nhưng tất cả đều động viên nhau giữ vững tinh thần, tiếp tục tiến lên…” - ông Hoành nhớ lại.
Mỗi ngày, địch đánh 7 - 8 trận, bằng những loại vũ khí tối tân, hiện đại nhất. “Anh em chiến sỹ bám vào từng bờ tường, từng ụ gạch để chiến đấu. Người trước ngã xuống, người sau tiến lên. Có đồng chí quê miền Bắc vừa hy sinh thì 5 ngày sau, em trai ruột cũng ngã xuống trong Thành cổ. Có những khi xuồng cứu thương vừa chở thương binh ra giữa sông đã bị bom đánh chìm, cả thương binh lẫn người cứu thương đều hy sinh, chúng tôi đứng bên thành cổ nhìn sang mà ruột gan quặn thắt” - ông Hoành nghẹn ngào.
Hiểm nguy vì bom đạn, đời sống sinh hoạt cũng thiếu thốn, gian khổ vô cùng. Vì phải bỏ lại ba-lô, chỉ mang vũ khí vào thành nên một bộ quân phục mặc suốt mấy tháng. Bom đạn khiến quần áo rách tả tơi; bùn đất, khói súng phủ kín mặt người.
Nguồn nước ô nhiễm nặng; lượng thuốc khử khuẩn được cấp phát không đủ dùng nên nhiều khi, các chiến sỹ đành uống nước bẩn. Lương khô và gạo sấy là những loại lương thực chủ yếu tiếp sức cho cán bộ, chiến sỹ trong những ngày tháng gian khổ đó.



