Bài viết

BCH Đoàn phường Nguyễn Úy (84)

Ninh Bình24/04/2026BCH Đoàn phường Nguyễn Úy (BCH Đoàn phường Nguyễn Úy)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

NGỌN LỬA CÁCH MẠNG

MANG TÊN TRẦN TỬ BÌNH

Lịch sử dân tộc Việt Nam là bản hùng ca bất tận về những con người đã hy sinh và cống hiến trọn đời cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Trong dòng chảy vẻ vang ấy, Trần Tử Bình nổi lên như một tấm gương tiêu biểu của lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tinh thần cách mạng bất khuất. Ông không chỉ là một chiến sĩ trung thành của Đảng mà còn là một nhà lãnh đạo có tầm nhìn, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Cuộc đời ông là minh chứng sống động cho lý tưởng cao đẹp: sống vì nhân dân, vì Tổ quốc.

1. Tiểu sử đồng chí Trần Tử Bình

Trần Tử Bình tên thật là Phạm Văn Phu, sinh năm 1907, trong một gia đình nông dân nghèo theo đạo Công giáo, tại xã Tiêu Động, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam (nay là xã Bình Sơn, tỉnh Ninh Bình). Biệt danh khi hoạt động Trần Tử Bình của ông có nghĩa "sống phong trần, lãng tử, dám xả thân vì chính nghĩa, bình đẳng" Ông là người lãnh đạo phong trào công nhân cao su Phú Riềng 1930; Một trong những cốt cán của Ủy ban Khởi nghĩa Hà Nội trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945. Sau Cách mạng tháng Tám ông đã được bổ nhiệm vào nhiều chức vụ của quân đội và Nhà nước như Phó giám đốc - Chính ủy Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (1946), Phó Bí thư Quân Ủy Trung ương (1947), Chính ủy trường Lục quân tại Trung Quốc (1950-1956), Tổng Thanh tra Quân đội kiêm Phó Tổng Thanh tra Chính phủ (1956-1958), Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1959-1967).Ngay từ nhỏ, ông đã chứng kiến cảnh người dân bị áp bức, bóc lột bởi thực dân và phong kiến, từ đó sớm hình thành lòng căm thù giặc và ý chí đấu tranh giải phóng dân tộc.

Không được học hành đầy đủ như nhiều người khác, nhưng bằng sự thông minh và tinh thần tự học, ông đã sớm tiếp cận với tư tưởng tiến bộ và con đường cách mạng. Chính hoàn cảnh khó khăn đã rèn luyện cho ông bản lĩnh vững vàng, tinh thần chịu đựng gian khổ và ý chí vươn lên mạnh mẽ – những phẩm chất làm nên một nhà cách mạng kiên trung sau này.

Vì tham gia phong trào yêu nước, vận động giáo sinh ở Chủng viện Hoàng Nguyên (Hà Đông) để tang cụ Phan Chu Trinh nên cuối năm 1926 ông bị đuổi học. Năm 1927, được Tống Văn Trân giác ngộ, ông đã ký hợp đồng vào Nam Bộ làm phu đồn điền cao su Phú Riềng.

Tại Phú Riềng, ông được nhà cách mạng Ngô Gia Tự giác ngộ, kết nạp vào Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội. Tháng 10 năm 1929, là đảng viên Đông Dương Cộng sản Đảng tại chi bộ Phú Riềng.

Cuối năm 1929, thay Nguyễn Xuân Cừ làm bí thư chi bộ. Đầu năm 1930, chi bộ lãnh đạo cuộc đấu tranh đòi quyền sống của 5.000 công nhân Phú Riềng, làm nên phong trào "Phú Riềng Đỏ" lịch sử. Sau đó, ông bị bắt, bị kết án 10 năm tù, bị đày ra Côn Đảo.

Thời kỳ bị Pháp giam cầm tại Côn Đảo ông vẫn tiếp tục học tập lý luận cách mạng, chủ nghĩa Marx-Lenin và đấu tranh đòi độc lập cho Việt Nam từ trong tù. Cũng trong quãng thời gian này ông đã kết thân với các nhà cách mạng cộng sản khác như: Tôn Đức Thắng, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng, Lê Văn Lương, Phạm Hùng, Hà Huy Giáp, Trần Xuân Độ, Nguyễn Văn Phát, v.v. đây là lứa cán bộ cốt cán đầu tiên của cách mạng xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Năm 1936, do ảnh hưởng của Mặt trận Bình dân Pháp, chính quyền thực dân phải thả ông về đất liền và quản thúc ông ở quê nhà. Sau khi được trả tự do ông quay trở về Hà Nam và làm thầy ký ở phố huyện Bình Lục, nhưng vẫn tiếp tục bí mật hoạt động cách mạng. Thời kỳ này ông đã lần lựơt giữ các chức vụ khác nhau trong Đảng bộ tỉnh Hà Nam như Bí thư chi bộ, Bí thư Huyện ủy Bình Lục và Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam.

Năm 1940, ông được bầu là Uỷ viên Xứ uỷ Bắc Kỳ và trực tiếp phụ trách Bí thư Khu uỷ khu C (Liên tỉnh: Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình) vào 1940, 1943; rồi năm 1941 - phụ trách Bí thư Khu uỷ khu D (Liên tỉnh: Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phú Thọ, Tuyên Quang).

Ngày 24 tháng 12 năm 1943, ông bị bắt ở Thái Bình. Đầu năm 1944, sau khi vượt ngục ở nhà tù Hà Nam bất thành ông bị chính quyền Pháp chuyển về nhà tù Hoả Lò (Hà Nội), nơi được coi là nhà tù tuyệt đối an toàn của chế độ thực dân Pháp. Tại Hỏa Lò, ông được bầu làm Trưởng ban sinh hoạt, tổ chức hoạt động công khai của tù chính trị. Ngày 11 tháng 3 năm 1945, lợi dụng sự kiện phát-xít Nhật hất cẳng Pháp ra khỏi Đông Dương, việc quản lý nhà tù Hỏa Lò có sự thay thày đổi chủ, lộn xộn và bị lơi lỏng, Trần Tử Bình cùng các tù chính trị cộng sản đã tổ chức cuộc vượt ngục nổi tiếng trong lịch sử theo đường cống ngầm giải thoát cho gần 100 tù chính trị, trong số đó có các ông Đỗ Mười, Trần Đăng Ninh...[3]

Sau khi thoát khỏi Hỏa Lò, ông trở về xây dựng Chiến khu Quang Trung hay Chiến khu Hòa - Ninh - Thanh, Bộ chỉ huy đặt tại thôn Tâm Quy xã Hà Tân huyện Hà Trung tinh Thanh Hóa (là khu vực giáp ranh các tỉnh: Hòa Bình - Ninh Bình - Thanh Hóa).

Ngày 19 tháng 8 năm 1945, với tư cách là Ủy viên Thường vụ Xứ uỷ Bắc Kỳ, Ông đã trực tiếp tham gia lãnh đạo Tổng khởi nghĩa Hà Nội và một số tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông tiếp tục đảm nhận nhiều trọng trách quan trọng trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Không chỉ hoạt động trong lĩnh vực chính trị, ông còn tham gia công tác quân sự và ngoại giao. Đặc biệt, ông từng giữ chức vụ đại sứ, góp phần xây dựng và củng cố quan hệ quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn đầu đầy khó khăn.

Dù ở bất kỳ vị trí nào, Trần Tử Bình luôn thể hiện sự tận tụy, trách nhiệm và lòng trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cách mạng. Ông không ngại khó khăn, gian khổ, luôn đặt lợi ích của Tổ quốc và nhân dân lên trên hết.

2. Tuổi trẻ ngày nay tiếp bước cha ông

Trong bối cảnh đất nước hòa bình và hội nhập quốc tế, thế hệ trẻ hôm nay tuy không còn phải đối mặt với chiến tranh, nhưng vẫn đứng trước nhiều thách thức mới. Cuộc đời và sự nghiệp của Trần Tử Bình mang đến nhiều bài học quý giá cho thanh niên hiện đại.

Trước hết, đó là bài học về lý tưởng sống. Ông sống không chỉ cho bản thân mà còn vì lợi ích chung của dân tộc. Thanh niên ngày nay cần xác định cho mình mục tiêu rõ ràng, sống có trách nhiệm với gia đình, xã hội và đất nước.

Thứ hai, đó là tinh thần kiên trì và ý chí vượt khó. Dù xuất thân nghèo khó, ông vẫn vươn lên trở thành nhà lãnh đạo lớn. Điều này nhắc nhở người trẻ rằng hoàn cảnh không quyết định tương lai, mà chính ý chí và nỗ lực mới là yếu tố quan trọng nhất.

Cuối cùng, đó là tinh thần cống hiến. Trong thời đại mới, sự cống hiến không chỉ thể hiện qua việc bảo vệ Tổ quốc mà còn qua học tập, lao động sáng tạo, góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn