Bài viết

Bế Văn Đàn – Cây Thép Giữa Ngàn Sâu Tây Bắc Và Khúc Tráng Ca Người Làm Giá Súng

Bế Văn Đàn – Cây Thép Giữa Ngàn Sâu Tây Bắc Và Khúc Tráng Ca Người Làm Giá Súng

Đồng Nai08/07/2026Chi đoàn Khu phố Sông Trầu 3 (Đoàn phường Trảng Bom)6 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong chiến dịch Đông Xuân 1953 – 1954, tiền đề quan trọng dẫn tới chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại, núi rừng Tây Bắc đã trở thành nhân chứng cho những cuộc đọ sức vô cùng khốc liệt giữa quân đội ta và thực dân Pháp. Giữa làn mưa bom bão đạn và cái lạnh thấu xương của vùng cao, tinh thần quyết chiến quyết thắng của người chiến sĩ Việt Nam đã tạo nên những huyền thoại bất tử. Một trong những biểu tượng rực rỡ nhất cho ý chí kiên cường, sẵn sàng hiến dâng thân mình để đồng đội lập công chính là Anh hùng liệt sĩ Bế Văn Đàn – người đã viết nên thiên anh hùng ca bằng chính đôi vai bằng xương bằng thịt của mình,.

Người con đất Cao Bằng và chí lớn tuổi thanh xuân

Bế Văn Đàn sinh năm 1931 trong một gia đình nghèo có truyền thống cách mạng tại xã Quang Trung, huyện Quảng Uyên (nay thuộc huyện Quảng Hòa), tỉnh Cao Bằng. Là người con của đồng bào dân tộc Tày, sinh ra và lớn lên trên mảnh đất cội nguồn cách mạng, anh đã sớm thấu hiểu nỗi thống khổ của nhân dân dưới ách áp bức của thực dân Pháp. Chính hoàn cảnh ấy đã hun đúc trong lòng người thanh niên trẻ tuổi một tinh thần yêu nước nồng nàn và ý chí căm thù giặc sâu sắc.

Tháng 1 năm 1948, khi cuộc kháng chiến chống Pháp bước vào giai đoạn cam go, Bế Văn Đàn khi đó mới 17 tuổi đã tình nguyện xung phong nhập ngũ. Anh được biên chế vào Tiểu đoàn 322, Trung đoàn 101, Đại đoàn 325 – một đơn vị chủ lực giàu truyền thống chiến đấu. Trong suốt những năm tháng tham gia nhiều chiến dịch lớn, dù ở vai trò chiến sĩ bộ binh, giao liên hay liên lạc của đại đội, Bế Văn Đàn luôn thể hiện là một người lính kiên cường, mưu trí, gian khổ không lui bước và luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Trận Mường Pồn – Cuộc đụng độ ác liệt giữa thung lũng rừng sâu

Tháng 12 năm 1953, thực dân Pháp tăng cường lực lượng đánh chiếm và xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, đồng thời mở các cuộc càn quét lớn nhằm phá vỡ kế hoạch của ta. Đơn vị của Bế Văn Đàn nhận lệnh hành quân lên Tây Bắc để bao vây và chặn đánh quân Pháp đang rút chạy từ Lai Châu về Điện Biên Phủ.

Ngày 12/12/1953, tại thung lũng hiểm trở Mường Pồn (thuộc huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên), một cuộc chiến nảy lửa đã diễn ra. Địch điều động lực lượng lớn bộ binh, có máy bay và pháo binh yểm trợ tối đa hòng chọc thủng trận địa của ta. Trận đánh diễn ra giằng co nghẹt thở, đại đội của Bế Văn Đàn chịu tổn thất nặng nề, chỉ còn lại duy nhất đồng chí Đại đội trưởng chỉ huy. Dù lúc này đang làm nhiệm vụ liên lạc và bị thương ở cánh tay, máu chảy thấm đẫm áo nhưng Bế Văn Đàn vẫn kiên quyết không rời trận địa, vừa truyền lệnh vừa trực tiếp cầm súng bắn trả địch.

Khoảnh khắc bất tử: Người chiến sĩ làm giá súng

Khi cuộc chiến lên đến đỉnh điểm, quân Pháp tập trung hỏa lực bắn dồn dập vào vị trí tổ trung liên của ta, khiến các chiến sĩ bắn súng máy đều thương vong. Nhìn thấy hướng tiến công của giặc đang ập sát mà khẩu trung liên – hỏa lực chủ lực – lại im tiếng, Bế Văn Đàn lòng như lửa đốt, anh lập tức lao băng qua làn đạn để tiếp cận vị trí khẩu súng.

Tại đây chỉ còn lại đồng chí Chu Văn Pù đang bị thương nhưng vẫn ôm chặt khẩu trung liên Bren. Tình thế lúc đó vô cùng ngàn cân treo sợi tóc: quân Pháp đã áp sát chân đồi, reo hò xông lên, nhưng quanh đó không có công sự, mặt đất sạt lở nên không có điểm tì để đặt chân súng. Nếu bắn không có giá đỡ, sức giật mạnh của khẩu Bren sẽ khiến đạn bay chệch hướng và không thể giữ vững súng.

Không một giây chần chừ, Bế Văn Đàn lao đến và dõng dạc hô lớn: "Đặt súng lên vai tôi mà bắn!". Trước sự ngần ngại của đồng chí Pù khi nhìn thấy bờ vai anh đang rướn máu, Bế Văn Đàn đã nghiêm nét mặt, ánh mắt bừng lên ý chí sắt đá và nói như ra lệnh: "Kẻ thù trước mặt, đồng chí cắn răng bắn chết chúng đi! Cho tôi trả thù cho đồng đội!".

Lời nói đanh thép ấy đã tiếp thêm sức mạnh cho Chu Văn Pù. Anh Pù gạt nước mắt, đặt chân khẩu súng máy nặng trĩu lên hai bờ vai của Bế Văn Đàn. Khi khẩu Bren khạc lửa, sức giật khủng khiếp của nó như muốn làm rách toạc bờ vai anh, đôi tai lùng bùng vì tiếng nổ cận kề, các vết thương cũ lại toác ra, máu chảy đỏ thẫm. Thế nhưng, Bế Văn Đàn vẫn đứng vững như một cột đồng, hai tay bấu chặt vào vách đất, lồng ngực ưỡn thẳng để làm điểm tựa vững chãi nhất cho đồng đội. Nhờ hỏa lực chính xác từ "giá súng bằng người" này, quân ta đã quét sạch từng hàng ngũ quân Pháp, bẻ gãy hoàn toàn đợt phản công của chúng.

Tượng đài sống của ý chí kiên cường và sự hy sinh lẫm liệt

Giữa lúc khẩu súng máy đang nhả đạn oanh liệt, một loạt đạn độc ác từ ổ đại liên của địch đã bắn trúng ngực và bụng của Bế Văn Đàn. Người chiến sĩ quả cảm đã ngã xuống ngay trên chiến hào Mường Pồn khi tuổi đời vừa tròn 22. Anh hy sinh vào chiều ngày 12 tháng 12 năm 1953.

Sự hy sinh của Bế Văn Đàn đã trở thành một ngọn đuốc thắp sáng tinh thần quyết chiến cho toàn mặt trận Tây Bắc bấy giờ. Tấm gương "lấy thân làm giá súng" của anh đã thôi thúc hàng vạn chiến sĩ khác bước vào chiến dịch Điện Biên Phủ với tâm thế hiên ngang, không quản ngại hy sinh. Để tri ân công lao ấy, ngày 31/8/1955, anh vinh dự được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cùng Huân chương Quân công hạng Nhì.

Hơn bảy mươi năm trôi qua, câu chuyện về người con của núi rừng Cao Bằng lấy thân mình làm giá súng vẫn mãi là một trong những trang sử hào hùng, xúc động nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam. Anh ngã xuống khi tuổi thanh xuân đẹp nhất, nhưng đôi vai của anh đã gánh vác cả một phần giang sơn, nâng đỡ cho vinh quang toàn thắng của dân tộc. Tấm gương của anh sẽ mãi là bài học sâu sắc nhắc nhở thế hệ hôm nay luôn sống, cống hiến để bảo vệ trọn vẹn nền độc lập, tự do của Tổ quốc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn