Bế Văn Đàn giấu tài liệu cách mạng
Tôi nghe câu chuyện này từ một cán bộ lão thành ở Cao Bằng, người nhiều năm sưu tầm ký ức về Anh hùng Bế Văn Đàn. Ông nói rằng trước khi trở thành người lấy vai làm giá súng ở Điện Biên Phủ, Bế Văn Đàn đã từng là một thanh niên giao liên nhanh nhẹn, gan dạ và rất kín đáo trong việc bảo vệ tài liệu cách mạng.

Tôi nghe câu chuyện này từ một cán bộ lão thành ở Cao Bằng, người nhiều năm sưu tầm ký ức về Anh hùng Bế Văn Đàn. Ông nói rằng trước khi trở thành người lấy vai làm giá súng ở Điện Biên Phủ, Bế Văn Đàn đã từng là một thanh niên giao liên nhanh nhẹn, gan dạ và rất kín đáo trong việc bảo vệ tài liệu cách mạng.
Năm 1948, bản Nà Sác còn chìm trong sương núi mỗi sáng. Bế Văn Đàn khi ấy mới mười bảy tuổi, vừa làm nương vừa tham gia công tác liên lạc cho cơ sở Việt Minh trong vùng.
Một buổi chiều mưa, đồng chí cán bộ huyện gọi anh đến. Ông lấy từ túi áo ra một gói giấy dầu nhỏ, buộc rất chặt.
– Đàn, tài liệu này phải chuyển sang bản bên kia núi trước sáng mai.
– Có quan trọng lắm không anh?
Người cán bộ nhìn thẳng vào mắt chàng trai trẻ:
– Nếu rơi vào tay địch, nhiều cơ sở sẽ gặp nguy hiểm.
Đàn gật đầu, không hỏi thêm nữa.
Đêm xuống, mưa phùn phủ kín lối rừng. Anh giấu gói tài liệu vào một ống tre nhỏ rồi buộc sát người dưới lớp áo chàm.
Con đường sang bản Khuổi Lìn phải vượt qua một con đèo hẹp. Gần đến đỉnh đèo, Đàn nghe tiếng chó sủa và ánh đèn pin loang loáng trong sương.
Địch đang phục kích.
Anh lập tức rẽ khỏi đường chính, men theo lối người đi săn. Đất trơn, đá sắc, nhiều lần anh suýt trượt xuống vực.
Đi được một quãng, tiếng người lại vang lên phía trước. Đàn hiểu rằng mình đã bị chặn cả hai đầu.
Anh chui vào một bụi trúc dày, nằm ép sát đất. Mưa lạnh ngấm vào người, nhưng điều anh lo nhất không phải cái rét mà là gói tài liệu.
Nếu bị bắt, địch sẽ khám người.
Đàn đưa tay sờ quanh và chợt nhìn thấy một gốc cây nghiến lớn bị mục ở giữa. Anh nhẹ nhàng lấy ống tre ra, bọc thêm một lớp lá chuối khô rồi giấu sâu vào hốc cây.
Vừa xong thì tiếng bước chân đã đến rất gần.
Một tên lính soi đèn vào bụi trúc:
– Có ai ở đó không?
Đàn nín thở.
Ánh đèn quét qua mặt anh rồi chuyển sang chỗ khác. Toán lính đi tiếp mà không phát hiện gì.
Đợi rất lâu, anh mới bò ra khỏi bụi trúc. Nhưng anh không quay lại lấy tài liệu ngay.
Anh nghĩ: “Nếu chúng còn phục ở đây, mình quay lại sẽ lộ.”
Vì vậy, anh đi vòng qua một quả đồi khác, chờ đến gần sáng mới trở lại gốc nghiến.
Hốc cây vẫn còn nguyên.
Anh lấy ống tre ra, lau khô rồi tiếp tục lên đường.
Khi tới được bản Khuổi Lìn, trời vừa hửng sáng. Người cán bộ nhận tài liệu, mở ra kiểm tra rồi thở phào.
– Tốt lắm, còn nguyên vẹn.
Ông nhìn bộ quần áo ướt sũng và đôi chân đầy bùn đất của Đàn:
– Có chuyện gì trên đường à?
Đàn chỉ cười:
– Em phải cho tài liệu ngủ nhờ trong gốc cây một đêm.
Người cán bộ im lặng rất lâu rồi vỗ vai anh:
– Cách mạng cần những người biết giữ bí mật như em.
Ít lâu sau, cơ sở trong vùng bị địch càn quét nhưng không thu được tài liệu nào quan trọng. Nhiều cán bộ và liên lạc vẫn an toàn.
Đồng đội kể rằng từ đó, mỗi khi giao việc bí mật cho Bế Văn Đàn, mọi người đều rất yên tâm. Anh ít nói, không khoe công và luôn nghĩ đến sự an toàn của tổ chức trước bản thân mình.
Nhiều năm sau, khi Bế Văn Đàn đã trở thành Anh hùng Điện Biên Phủ, người cán bộ cũ vẫn nhớ đêm mưa ở đèo Khuổi Lìn.
Ông nói:
– Người ta nhớ Đàn vì lấy vai làm giá súng. Nhưng tôi nhớ cậu ấy còn vì biết giữ một gói tài liệu nhỏ như giữ sinh mạng của đồng đội.
Bây giờ, dưới chân dãy núi cũ, gốc nghiến năm xưa không còn nữa. Nhưng câu chuyện vẫn được kể cho lớp trẻ trong bản nghe.
Rằng lòng dũng cảm không chỉ có trên chiến hào.
Có khi nó nằm trong một đêm mưa lạnh, khi một chàng trai mười bảy tuổi âm thầm giấu tài liệu cách mạng vào hốc cây để bảo vệ cơ sở, bảo vệ đồng đội và bảo vệ ngọn lửa cách mạng giữa núi rừng Việt Bắc.
Và chính từ những việc nhỏ bé, lặng thầm như thế, người thanh niên Bế Văn Đàn đã lớn lên thành một người anh hùng của dân tộc Việt Nam.



