BẾ VĂN ĐÀN – LẤY THÂN MÌNH LÀM GIÁ SÚNG, MỞ ĐƯỜNG CHO CHIẾN THẮNG
Mùa đông năm 1953, chiến trường Điện Biên Phủ bước vào giai đoạn chuẩn bị vô cùng khốc liệt. Giữa đỉnh đèo, lưng dốc của núi rừng Tây Bắc, bộ đội ta phải đối mặt với muôn vàn gian khổ dưới làn mưa bom, bão đạn của kẻ thù. Để siết chặt vòng vây quanh tập đoàn cứ điểm của thực dân Pháp, những trận đánh giáp lá cà, những cuộc giành giật từng tấc đất đã diễn ra vô cùng quả cảm. Trong cuộc đối đầu sinh tử ấy, lòng yêu nước và ý chí quyết chiến đã tạo nên những huyền thoại bằng xương bằng thịt.

BẾ VĂN ĐÀN – LẤY THÂN MÌNH LÀM GIÁ SÚNG, MỞ ĐƯỜNG CHO CHIẾN THẮNG
Mùa đông năm 1953, chiến trường Điện Biên Phủ bước vào giai đoạn chuẩn bị vô cùng khốc liệt. Giữa đỉnh đèo, lưng dốc của núi rừng Tây Bắc, bộ đội ta phải đối mặt với muôn vàn gian khổ dưới làn mưa bom, bão đạn của kẻ thù. Để siết chặt vòng vây quanh tập đoàn cứ điểm của thực dân Pháp, những trận đánh giáp lá cà, những cuộc giành giật từng tấc đất đã diễn ra vô cùng quả cảm. Trong cuộc đối đầu sinh tử ấy, lòng yêu nước và ý chí quyết chiến đã tạo nên những huyền thoại bằng xương bằng thịt.
Trong hàng ngũ những người con kiên trung năm ấy, có Bế Văn Đàn, người chiến sĩ liên lạc thuộc Đại đội 174, Đại đoàn 316. Sinh ra trong một gia đình nghèo thuộc dân tộc Tày tại Cao Bằng, anh mang theo bản tính chất phác, kiên cường và lòng căm thù giặc sâu sắc khi bước chân vào quân ngũ. Giữa chiến trường khói lửa, người chiến sĩ trẻ ấy luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, dẫu cho có phải băng qua trăm đèo nghìn suối dưới tầm đạn bắn phá của kẻ thù.
Khoảnh khắc sinh tử trên đồi quyết đầu
Nhiệm vụ của người chiến sĩ liên lạc vốn dĩ là mạch máu của chiến trường. Trong một trận đánh ác liệt tại Mường Pồn, khi đơn vị của Bế Văn Đàn bị địch bao vây cô lập, tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Nhìn đồng đội lần lượt ngã xuống, hỏa lực của ta lại bị hạn chế do địa hình không có điểm tì súng, anh không hề do dự, ôm tài liệu và mệnh lệnh vượt qua lưới đạn dày đặc để truyền đạt chỉ thị.
Khi đến nơi, khẩu trung liên của đồng đội không thể nhả đạn hiệu quả vì không tìm được chỗ đặt giá súng giữa trận địa đất đá bị cày xới, sạt lở. Trong khoảnh khắc ngàn vàng, khi quân địch đang điên cuồng phản công và lao lên, Bế Văn Đàn đã đưa ra một quyết định phi thường. Anh lao đến, dùng hai tay ghì chặt hai chân súng trung liên, đặt mạnh lên đôi vai gầy của mình và hét lớn:
"Bắn đi! Vì Đảng, vì dân, trả thù cho đồng đội!"
Sự hy sinh hóa thành bất tử
Thân mình làm giá súng, đôi vai anh trở thành điểm tựa vững chãi cho từng loạt đạn trút căm hờn vào đội hình quân địch. Tiếng súng trung liên nổ giòn giã, đẩy lùi các đợt tấn công của kẻ thù, bảo vệ thành công trận địa then chốt. Nhưng cũng chính trong khoảnh khắc anh hùng ấy, Bế Văn Đàn đã bị trúng nhiều vết thương hiểm nghèo và anh dũng hy sinh ngay tại chiến trường khi hai tay vẫn ghì chặt chân súng.
Sự hy sinh của anh không có những lời điếu văn hoa mỹ, chỉ có tiếng súng tiến công vang dội của đồng đội như một lời tiễn biệt đầy kiêu hùng. Anh ngã xuống, nhưng đôi vai ấy đã kịp mở đường cho một chiến thắng, giữ vững bàn đạp quan trọng để quân ta tiến tới đập tan hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ vào ngày 7 tháng 5 năm 1954.
Biểu tượng sáng ngời của lòng quả cảm
Sau ngày hòa bình, Bế Văn Đàn được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Hình ảnh "Thân làm giá súng" của anh đã đi vào thơ ca, nhạc họa, trở thành một trong những biểu tượng cao đẹp nhất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.
Ngày nay, chiến tranh đã lùi xa, nhưng câu chuyện về người con đất Cao Bằng lấy thân mình làm giá súng vẫn mãi là ngọn lửa sưởi ấm và soi đường cho các thế hệ trẻ. Anh và những người đồng đội năm xưa không chọn cách lùi bước trước hiểm nguy, bởi trong tim họ, độc lập của tự do của dân tộc mới là lý tưởng sống cao đẹp nhất./.



