BẾ VĂN ĐÀN - NGƯỜI ANH HÙNG LẤY THÂN MÌNH LÀM GIÁ SÚNG
Bế Văn Đàn sinh năm 1931, là người dân tộc Tày, quê ở xã Quang Vinh, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng. Đồng chí sinh ra trong một gia đình nghèo có truyền thống cách mạng, cha làm thợ mỏ, mẹ mất sớm, chú hoạt động cách mạng bị giặc Pháp bắt và giết hại, anh phải đi ở cho địa chủ từ nhỏ. Sau 5 năm đi ở, anh trốn về ở với dì và tham gia du kích.

Hành trình ra trận và tinh thần quả cảm
Tháng 1 năm 1949, người thanh niên Bế Văn Đàn xung phong lên đường nhập ngũ. Trải qua nhiều chiến dịch gian khổ, anh luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, kiên quyết chấp hành nghiêm túc, chính xác và kịp thời mọi mệnh lệnh của cấp trên, bất chấp mọi khó khăn và ác liệt của chiến trường.
Trận chiến cam go tại Mường Pồn
Bước vào Chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, thời điểm cuộc kháng chiến chống Pháp đang ở giai đoạn quyết liệt nhất, Bế Văn Đàn được giao nhiệm vụ làm chiến sĩ liên lạc cho tiểu đoàn. Lúc này, một đại đội của tiểu đoàn có nhiệm vụ bao vây, ngăn chặn quân Pháp tại Mường Pồn. Cậy thế lực lượng đông hơn và có phi pháo yểm trợ, quân Pháp liên tiếp mở hai đợt phản kích lớn nhưng đều bị quân ta đánh bại. Cuộc chiến diễn ra vô cùng căng thẳng, quân Pháp liều chết xông lên, trong khi quân ta kiên quyết giữ vững chốt chặn.
Trước tình thế đó, đại đội nhận lệnh bằng mọi giá phải giữ vững Mường Pồn để tạo điều kiện cho các đơn vị bạn triển khai lực lượng theo chủ trương chiến dịch. Dù vừa đi công tác về, Bế Văn Đàn vẫn tình nguyện nhận nhiệm vụ. Anh dũng cảm vượt qua lưới đạn dày đặc của kẻ thù để truyền đạt mệnh lệnh: “Bằng mọi giá phải giữ chân địch để đơn vị lớn triển khai lực lượng được kịp thời chu đáo”. Sau khi truyền lệnh, anh được phép ở lại trận địa để sát cánh chiến đấu cùng đồng đội.
Khoảnh khắc anh hùng làm giá súng
Đến đợt phản kích thứ ba của quân Pháp, cuộc chiến đạt đến đỉnh điểm ác liệt. Đại đội ta chịu tổn thất nặng nề, chỉ còn lại 17 người chiến đấu. Bản thân Bế Văn Đàn cũng đã bị thương nhưng anh quyết không rời trận địa. Lúc này, một khẩu trung liên bị ngưng bắn do xạ thủ đã hy sinh; khẩu trung liên của đồng chí Chu Văn Pù cũng không thể bộc phát hỏa lực vì không tìm được vị trí đặt súng.
Trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc, Bế Văn Đàn không một chút do dự, lập tức chạy đến dùng hai tay nhấc bổng hai chân khẩu trung liên đặt lên vai mình và giục đồng đội nổ súng. Thấy Chu Văn Pù còn đắn đo, anh kiên quyết thúc giục: “Kẻ thù trước mặt, bắn chết chúng nó đi, trả thù cho đồng đội”. Tiếp thêm sức mạnh từ người liên lạc, Chu Văn Pù nghiến răng bắn xối xả, tiêu diệt hàng chục tên địch, bẻ gãy hoàn toàn đợt phản kích khiến chúng phải hốt hoảng rút chạy.
Sự hy sinh anh dũng và sự tri ân của Tổ quốc
Quân ta tiếp tục bảo vệ vững chắc trận địa. Tuy nhiên, trong lúc đứng làm giá súng, Bế Văn Đàn đã trúng thêm hai vết thương nặng và anh dũng hy sinh, hai tay vẫn ghì chặt chân súng trên vai mình. Sự quả cảm của anh đã trở thành nguồn động lực to lớn, cổ vũ toàn thể cán bộ, chiến sĩ trên mặt trận thi đua giết giặc lập công, góp phần làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".
Xúc động trước sự hy sinh ấy, nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:
“Ngã xuống ở Mường Pồn anh đâu biết có mùa cam,
Anh chỉ biết có dây thép gai đồn giặc
Tôi yêu những con người chưa hình dung ra hạnh phúc,
Lúc đồng đội cần dẫu chết không từ nan…”
Hình tượng Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng đã trở thành một biểu tượng bất tử của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tại đại hội mừng công của đơn vị, anh được truy tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất và được bầu là Chiến sĩ thi đua số 1 của tiểu đoàn. Ngày 31-8-1955, anh được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cùng Huân chương Quân công hạng Nhì.
Đến tháng 5-1959, Đảng, Nhà nước và nhân dân đã trang trọng di chuyển hài cốt của anh từ Mường Pồn về quy tụ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia A1 (tỉnh Điện Biên). Ngày nay, tên của Anh hùng liệt sĩ Bế Văn Đàn được đặt cho nhiều ngôi trường, con phố trên khắp cả nước, và di tích Mường Pồn luôn là địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ mai sau.



