Bế Văn Đàn: Người Chiến Sĩ Lấy Thân Mình Làm Giá Súng Nơi Cửa Ngõ Điện Biên
Bế Văn Đàn: Người Chiến Sĩ Lấy Thân Mình Làm Giá Súng Nơi Cửa Ngõ Điện Biên
Trong cuộc Tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953 – 1954 mở đường tiến về tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, trận đánh chặn địch tại thung lũng Mường Pồn (tỉnh Lai Châu) ngày 12 tháng 12 năm 1953 đã ghi vào lịch sử một tượng đài bất tử về lòng quả cảm: người chiến sĩ dân tộc Tày Bế Văn Đàn lấy trọn thân mình làm giá súng cho đồng đội nhả đạn bẻ gãy đợt phản kích của quân thù.
Người con ưu tú của núi rừng Trùng Khánh
Bế Văn Đàn sinh năm 1931 trong một gia đình nông dân nghèo thuộc đồng bào dân tộc Tày tại xã Quang Vinh, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Sớm mồ côi mẹ, tuổi thơ anh nếm trải cảnh đi làm thuê, ở đợ đầy cơ cực dưới ách áp bức của phong kiến và thực dân.
Năm 1949, khi ngọn lửa cách mạng bùng cháy khắp chiến khu Việt Bắc, chàng thanh niên 18 tuổi đã hăng hái xung phong nhập ngũ. Trải qua nhiều chiến dịch lớn như Chiến dịch Biên giới (1950), Trung du, Hòa Bình, Tây Bắc, Bế Văn Đàn luôn thể hiện tinh thần dũng cảm, tận tụy và được đồng đội tin yêu. Đến mùa đông năm 1953, anh là chiến sĩ liên lạc thuộc Đại đội 674, Tiểu đoàn 251, Trung đoàn 174 (Đại đoàn 316).
Trận đánh phục kích nghẹt thở tại Mường Pồn
Đầu tháng 12 năm 1953, trước sức ép tiến công của quân ta, quân Pháp buộc phải rút chạy khỏi thị xã Lai Châu theo đường rừng về co cụm tại tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Nhận lệnh truy kích và chặn đánh quân địch rút lui, Trung đoàn 174 đã hành quân thần tốc đón đầu đối phương tại thung lũng Mường Pồn.
Sáng ngày 12 tháng 12 năm 1953, quân địch lọt vào trận địa phục kích. Bị đánh bất ngờ, quân Pháp điên cuồng dồn toàn lực phản kích nhằm mở đường máu. Chúng điều động máy bay ném bom rải thảm, pháo binh bắn phá dữ dội kết hợp bộ binh đông gấp bội mở liên tiếp các đợt xung phong đánh vào đội hình Đại đội 674.
Khói lửa bao trùm trận địa, đất đá cày xới dữ dội. Là liên lạc viên của đại đội, Bế Văn Đàn không quản hiểm nguy, thoăn thoắt băng qua các đoạn hào ngập bùn đất và làn mưa đạn để truyền đạt mệnh lệnh chiến đấu của đại đội trưởng đến từng trung đội, tiểu đội.
Khúc tráng ca trên mép chiến hào
Tình thế chiến đấu mỗi lúc một cam go khi quân số của ta bị thương vong nhiều, đạn dược vơi dần. Tại mỏm chốt chặn then chốt, khẩu trung liên của chiến sĩ Chu Văn Pù là điểm hỏa lực quan trọng nhất để ghìm đầu địch, nhưng xạ thủ phụ bị thương, còn bản thân Chu Văn Pù cũng bị thương ở mắt.
Đặc biệt, mép công sự bị bom phạt sạt lở, khẩu súng trung liên không có chỗ kê chân giá súng, xạ giới bị che khuất khiến đạn bắn ra không thể khống chế được làn sóng lính địch đang ồ ạt xông lên.
Đúng lúc đó, Bế Văn Đàn vừa hoàn thành nhiệm vụ truyền lệnh quay lại. Thấy đồng đội bối rối, trong tích tắc sinh tử, anh lao ngay tới bên Chu Văn Pù, hai tay ghì chặt hai càng chân súng trung liên đặt chắc chắn lên đôi vai của chính mình, rồi đanh thép hô lớn:
“Kẻ thù trước mặt, đồng chí hãy bắn mạnh vào đầu chúng nó!”
Chu Văn Pù sững sờ, nước mắt trào ra trước hành động bất ngờ của người đồng đội: nòng súng sắt bén nhọn và sức giật khủng khiếp của đạn trung liên sẽ cày xé da thịt đồng đội. Nhưng trước làn sóng địch đang tràn tới, Bế Văn Đàn siết chặt hai tay hơn nữa, dồn hết sức lực giục giã:
“Nỗi thù này phải trả, đồng chí bắn đi!”
Khẩu súng trung liên gác trên bờ vai bằng xương bằng thịt của Bế Văn Đàn rung lên bần bật, nhả từng loạt đạn đanh gọn quét gục hàng loạt tên giặc, bẻ gãy đợt phản công hung hãn của đối phương.
Trong lúc ghìm chặt giá súng cho đồng đội bắn, một loạt đạn của địch bắn trả trúng người khiến Bế Văn Đàn bị thương nặng. Nhưng anh vẫn nghiến răng, gồng toàn bộ thân thể làm điểm tựa vững chãi cho khẩu súng tiếp tục nhả đạn cho đến khi trút hơi thở cuối cùng ngay trên chiến hào.
Hành động quả cảm phi thường của anh đã thổi bùng ngọn lửa căm thù và ý chí quyết tử trong toàn đơn vị. Toàn đại đội đồng loạt thét vang xung phong xông lên tiêu diệt gọn cánh quân địch, giữ vững cửa ngõ tiến về lòng chảo Điện Biên Phủ.
Tượng đài bất tử trong lòng non sông
Sự hy sinh của Bế Văn Đàn đã trở thành một trong những biểu tượng sáng ngời nhất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Ngày 31 tháng 8 năm 1955, anh được Quốc hội và Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và Huân chương Quân công hạng Nhì.
Hình ảnh người chiến sĩ dân tộc Tày lấy thân làm giá súng đã đi vào thơ ca, nhạc họa và tâm khảm của nhiều thế hệ người Việt qua những câu hát hào hùng:
“Bế Văn Đàn một tâm hồn vĩ đại
Hai vai anh làm giá súng kiên cường...”


