Bế Văn Đàn - Thân Súng Bằng Thép, Trái Tim Bằng Lửa
Đặng Mai Phương
Tháng 12 năm 1953, chiến dịch Đông Xuân bước vào giai đoạn quyết liệt. Trong đợt tấn công mưu trí nhằm xé lẻ lực lượng đối phương, Đại đội 316 thuộc Trung đoàn 36 (Đoàn Bắc Bắc) nhận lệnh chặn đánh quân Pháp rút chạy từ Lai Châu về Mường Pồn. Trận địa nằm giữa vùng núi cao hiểm trở, sương mù phủ kín những vạt rừng lau thưa. Trong số những người lính trẻ kiên cường ấy có Bế Văn Đàn – người con tộc Tày sinh ra ở vùng quê nghèo Quảng Hoà, Cao Bằng.
Sáng ngày 14 tháng 12, địch huy động quân số áp đảo cùng hỏa lực từ máy bay, pháo binh hòng phá vỡ vòng vây. Tiếng gầm rú của động cơ xé tan sự tĩnh lặng của núi rừng Tây Bắc, mặt đất Mường Pồn rung chuyển dữ dội dưới làn mưa bom, bão đạn. Đơn vị của Bế Văn Đàn mỏng về quân số, lại nằm đúng hướng tiến công chính của đối phương. Ban đầu, Bế Văn Đàn làm nhiệm vụ liên lạc, chạy ngược chạy xuôi giữa các hào chiến đấu dưới làn đạn dày đặc để truyền đạt mệnh lệnh.
Khi trận đánh đi vào thời điểm nghẹt thở nhất, khẩu đội trung liên của đại đội chỉ còn lại hai người: xạ thủ Chu Văn Pù và Bế Văn Đàn. Quân địch nhận ra vị trí hỏa lực yếu thế liền điên cuồng khép chặt vòng vây, dồn dập nhả đạn về phía hầm trung liên. Đúng lúc này, Chu Văn Pù bị thương nặng, lực lượng chiến đấu tổn thất nghiêm trọng. Khẩu trung liên – điểm tựa duy nhất để ghìm chân quân địch – bỗng lặng đi vì thiếu người vận hành và không có chỗ đặt chân súng thích hợp trên mặt đất đã bị xới tung, vỡ vụn bởi đạn pháo.
Nhìn quân địch dâng lên từng lớp, Bế Văn Đàn không hề đắn đo. Anh lao đến bên khẩu súng, v vội lấy hai tay ghì chặt hai chân súng ghìm lên vai mình, rồi ngoảnh lại giục dã người đồng đội:
"Kẻ thù trước mặt, đồng chí nổ súng đi!"
Chu Văn Pù bàng hoàng nhìn bờ vai gầy của Bế Văn Đàn, tay run run không nỡ bóp cò. Lực nảy từ khẩu trung liên khi bắn liên thanh có thể xé rách da thịt, làm dập nát bờ vai người làm giá súng. Nhưng Bế Văn Đàn gầm lên trong tiếng đạn nổ: "Kẻ thù ở trước mặt, giữ vững trận địa, thà sinh tiết chứ không chịu lùi!"
Lời hô đanh thép ấy xé tan nỗi do dự. Chu Văn Pù nghiến răng nghiêng người bóp cò. Từng chuỗi đạn trung liên đanh thép quét thẳng vào đội hình địch. Nhờ điểm tựa bằng thịt bằng xương nhưng vững như đá hộc của Bế Văn Đàn, hỏa lực của ta giữ được nhịp bắn chính xác, bẻ gãy liên tiếp các đợt đợt phản công của đối phương.
Trong lúc giằng co kiên cường ấy, Bế Văn Đàn bị trúng hai vết đạn nguy hiểm. Dù máu nhuộm đỏ chiếc áo trấn thủ, anh vẫn gồng mình chịu đựng, hai tay bám chặt chân súng cho đến khi trút hơi thở cuối cùng ngay tại trận địa. Anh ngã xuống khi mới 22 tuổi, nhưng thế đứng và bờ vai anh đã đi vào lịch sử như một biểu tượng bất tử về lòng chí công vô tư, sẵn sàng hy sinh vì độc lập của Tổ quốc.



