Bế Văn Đàn và tiếng khèn gọi bạn
Gió núi Cao Bằng chiều ấy thổi dài qua những nương ngô đang thì con gái. Từ bản Nà Sác nhỏ bé, tiếng khèn của người Tày vang lên trầm buồn, như gọi ai từ rất xa trở về. Người thổi khèn là ông Lương, bạn thuở nhỏ của Bế Văn Đàn. Mỗi lần nghe tiếng khèn ấy, bà con trong bản lại nhớ đến chàng trai đã đi theo cách mạng và mãi mãi không trở về. Bế Văn Đàn sinh năm 1931 trong một gia đình nghèo ở vùng núi Cao Bằng. Tuổi thơ của anh gắn với con suối đầu bản, những buổi chăn trâu trên sườn núi và tiếng khèn gọi bạn mỗi đêm hội. Người Tày coi tiếng khèn không chỉ là âm nhạc, mà còn là tiếng lòng, tiếng gọi của tình bạn và nghĩa đồng bào.

Gió núi Cao Bằng chiều ấy thổi dài qua những nương ngô đang thì con gái. Từ bản Nà Sác nhỏ bé, tiếng khèn của người Tày vang lên trầm buồn, như gọi ai từ rất xa trở về. Người thổi khèn là ông Lương, bạn thuở nhỏ của Bế Văn Đàn.
Mỗi lần nghe tiếng khèn ấy, bà con trong bản lại nhớ đến chàng trai đã đi theo cách mạng và mãi mãi không trở về.
Bế Văn Đàn sinh năm 1931 trong một gia đình nghèo ở vùng núi Cao Bằng. Tuổi thơ của anh gắn với con suối đầu bản, những buổi chăn trâu trên sườn núi và tiếng khèn gọi bạn mỗi đêm hội. Người Tày coi tiếng khèn không chỉ là âm nhạc, mà còn là tiếng lòng, tiếng gọi của tình bạn và nghĩa đồng bào.
Năm mười bảy tuổi, Đàn tham gia bộ đội. Trước ngày lên đường, ông Lương đã đứng trên mỏm đá cao thổi một điệu khèn tiễn bạn. Đàn cười:
– Khi nào hòa bình, tôi sẽ về nghe ông thổi tiếp.
Không ai ngờ đó là lần cuối cùng hai người gặp nhau.
Những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, đơn vị của Bế Văn Đàn chiến đấu ở nhiều chiến trường gian khổ. Anh nổi tiếng nhanh nhẹn, gan dạ và luôn nhường phần dễ cho đồng đội. Có lần hành quân giữa mưa rừng, anh cõng cả khẩu súng nặng cho người bạn bị sốt mà không than một lời.
Đồng đội thường hỏi:
– Đàn này, điều gì làm cậu nhớ nhà nhất?
Anh đáp rất khẽ:
– Tiếng khèn gọi bạn ở bản tôi.
Rồi anh kể về những đêm trăng, trai gái trong bản đứng bên bờ suối đối đáp bằng tiếng khèn, về tình bạn gắn bó như anh em ruột thịt. Có lẽ chính tình cảm ấy đã theo anh vào chiến trận.
Tháng 12 năm 1953, trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, đơn vị của Bế Văn Đàn chiến đấu ác liệt ở khu vực Mường Pồn. Địch từ các lô cốt bắn dữ dội xuống trận địa. Một khẩu trung liên của ta cần có điểm tựa để bắn trả nhưng chiến hào quá thấp, không đặt súng được.
Giữa làn đạn dày đặc, Bế Văn Đàn lao lên. Anh quỳ xuống, ghì chặt hai chân vào thành hào và hô lớn:
– Đặt súng lên vai tôi!
Người xạ thủ sững lại:
– Không được, nguy hiểm lắm!
Đàn thúc giục:
– Bắn đi! Đồng đội đang chờ!
Khẩu trung liên đặt lên vai anh. Những loạt đạn của ta lập tức quét vào hỏa điểm địch, tạo điều kiện cho đơn vị xung phong. Đạn địch bắn tới tấp. Vai anh rướm máu rồi đỏ thẫm cả áo. Nhưng anh vẫn nghiến răng giữ chặt tư thế cho đến khi hỏa điểm bị chế áp.
Khi đồng đội tiến lên được, họ quay lại thì Bế Văn Đàn đã gục xuống trong lòng chiến hào, hai tay vẫn còn ôm chặt báng súng.
Anh hy sinh khi mới 22 tuổi.
Tin anh ngã xuống được gửi về Cao Bằng nhiều tháng sau. Chiều hôm ấy, ông Lương mang cây khèn ra mỏm đá cũ. Ông thổi đúng điệu khèn năm nào tiễn bạn lên đường, nhưng lần này âm thanh nghẹn lại giữa gió núi.
Người già trong bản kể rằng tiếng khèn hôm ấy buồn đến mức chim rừng cũng im tiếng.
Từ đó, mỗi dịp tưởng nhớ liệt sĩ, bà con lại thổi điệu “gọi bạn trở về” để nhớ đến Bế Văn Đàn. Không ai tin rằng anh thực sự mất đi; họ nghĩ anh đã hóa thành ngọn gió trên đỉnh núi, thành tiếng khèn vang giữa sương sớm quê hương.
Năm 1955, Bế Văn Đàn được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tên anh được đặt cho nhiều trường học, đường phố và đơn vị quân đội trên khắp đất nước.
Nhưng với người dân Cao Bằng, điều thiêng liêng nhất không chỉ là danh hiệu anh hùng. Họ nhớ một chàng trai Tày hiền lành, yêu tiếng khèn, yêu bạn bè và sẵn sàng lấy chính thân mình làm giá súng để đồng đội được sống, để Tổ quốc tiến lên.
Mỗi khi tiếng khèn vang lên giữa núi rừng, câu chuyện ấy lại được kể cho lớp trẻ nghe.
Rằng có một người tên Bế Văn Đàn.
Rằng tình bạn có thể vượt qua cái chết.
Và rằng trong những năm tháng gian khổ nhất của dân tộc, đã có những con người bình dị biến thân mình thành điểm tựa cho chiến thắng của đất nước.



