BÊN DÒNG THẠCH HÃN
Nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ mùa hè đỏ lửa năm 1972, nhưng ký ức về Thành cổ Quảng Trị và dòng sông Thạch Hãn vẫn chưa bao giờ phai nhạt trong tâm trí những người từng chiến đấu nơi đây. Với chúng tôi – những người lính sinh viên của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội – Thạch Hãn không chỉ là một dòng sông. Đó vừa là nguồn sống, vừa là con đường tiếp tế, vừa là chứng nhân của biết bao mất mát.
Ngày ấy, cùng hàng vạn thanh niên miền Bắc tạm gác giảng đường, chúng tôi lên đường ra trận. Trung đoàn 95, Sư đoàn 325 được giao nhiệm vụ chốt giữ Thành cổ Quảng Trị. Những tháng ngày chiến đấu tại đây đã trở thành một phần ký ức không thể nào quên.
Vừa hành quân từ miền Bắc vào Quảng Trị bằng xe tải, chúng tôi bất ngờ bị máy bay địch ném bom ngạt. Không được trang bị phòng độc, lại chưa được huấn luyện kỹ cho tình huống này, nhiều người hoảng loạn, khó thở. Một số chiến sĩ gục xuống vì ngạt và kiệt sức. Giữa lúc nguy cấp, tiếng hô “Chạy ra bờ sông!” vang lên. Chúng tôi dìu nhau về phía Thạch Hãn, ngụp xuống dòng nước và may mắn thoát chết.
Từ đó, dòng sông trở thành nơi chúng tôi tìm đến mỗi khi cần nước uống. Trong Thành cổ, điều kiện chiến đấu khắc nghiệt đến mức gần như không có chuyện đun nấu. Bộ đội chủ yếu ăn lương khô, mà ăn lương khô thì càng khát. Nước Thạch Hãn vì thế trở thành nguồn sống của người lính.
Nhưng cũng chính dòng sông hiền hòa ấy đã trở thành tuyến đường sinh tử. Cầu bị phá hủy, mọi hoạt động vận chuyển người và hàng hóa vào Thành cổ chủ yếu phải thực hiện bằng đường sông, thường vào ban đêm.
Mỗi đêm, dưới ánh pháo sáng, những đoàn người mang theo vũ khí và đạn B40, B41 lặng lẽ vượt sông. Trên đầu là bom B52, từ biển Cửa Việt là những loạt pháo dội vào. Nhiều chiến sĩ đã ngã xuống, máu hòa vào dòng nước.
Bến sông trước dinh tỉnh trưởng cũ là nơi chứng kiến rất nhiều chuyến đi sinh tử. Ca-nô thường đưa thương binh nặng về tuyến sau trong khoảng từ 24 giờ đến 1 giờ sáng. Khi đến gần khu vực có địch phục kích, ca-nô tắt máy, người lái chèo thật nhẹ, còn thương binh và những người đi cùng phải nín thở.
Có lần, tôi bị mảnh đạn M79 làm thủng mắt cá chân nhưng vẫn tỉnh táo nên được giao nhiệm vụ nếu có thương binh rên đau khi ca-nô đi qua khu vực nguy hiểm thì phải lập tức bịt miệng. Chuyến đi hôm ấy có 11 người thoát khỏi khu vực nguy hiểm, nhưng bốn đồng chí hy sinh tại trạm phẫu vì vết thương quá nặng. Hai người khác hy sinh trên đường ra Bắc khi xe tải trúng bom B52.
Giữa những ngày tháng khốc liệt ấy, tôi còn tình cờ gặp em trai mình, Đoàn Hữu Khiết, khi đơn vị của em được tăng cường vào chiến trường. Hai anh em chỉ kịp động viên nhau cố gắng hoàn thành nhiệm vụ. Chúng tôi hứa ít nhất phải có một người trở về.
Sau này, em tôi bị thương và được đưa ra Bắc điều trị. Năm 1979, em tái ngũ và hy sinh tại chiến trường Campuchia.
Hôm nay, dòng Thạch Hãn vẫn chảy qua Quảng Trị. Nước sông có thể đã trong xanh trở lại, nhưng với những người từng đi qua mùa hè năm 1972, dưới dòng nước ấy dường như vẫn còn lưu giữ ký ức về đồng đội.
Chúng tôi – những người lính sinh viên còn sống – vẫn nhắc nhớ về Thành cổ, về Thạch Hãn và về những người đã nằm lại nơi này. Bởi có những dòng sông không chỉ chảy qua đất nước, mà còn chảy qua ký ức của cả một thế hệ.


