Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Bến Lức 1968: "Cú đấm thép" của đặc công nước trên Quốc lộ 4

Đoạn trích tường thuật chi tiết quá trình chuẩn bị và thực thi trận đánh sập cầu Bến Lức – "yết hầu" chiến lược trên Quốc lộ 4 nối Sài Gòn với miền Tây – vào đợt 2 cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968. Dưới sự chỉ huy trực tiếp của tác giả (Tư Cường), lực lượng đặc công nước Phân khu 3 đã vượt qua hệ thống phòng ngự "nội bất xuất, ngoại bất nhập" của Mỹ - Ngụy, từ mạng lưới điện cao áp đến tàu tuần tiễu và người nhái dày đặc. Điểm nhấn của trận đánh là bản lĩnh kiên trì của tổ chiến đấu khi trải q

Lai Châu25/03/2026Ban Biên tập tổng hợp1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tháng 5 đã đến.

Tháng mở đầu đợt hai của cuộc tiến công và nổi dậy. Cũng như các Phân khu 1, 2, 4, 5 là xốc lại đội hình, tiếp tục tổ chức tiến công về hướng nội đô Sài Gòn, Phân khu 3 còn có thêm nhiệm vụ: đánh sập cầu Bến Lức,

Cầu Bến Lức dài 720 mét vắt qua sông Vàm cỏ Đông, cách Sài Gòn khoảng 32 cây số về phía tây - nam. Đây là một trong sô những cây cầu lớn nhất trên chiến trường miền Nam, đứng sau cầu xa lộ Biên Hòa, nhưng là cầu lớn nhất trên đường số 4 - một quốc lộ duy nhất nối thông Sài Gòn với vùng lúa gạo tây Nam Bộ xuống tận miệt Cà Mau - Năm Căn.

Chính vì cây cầu có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng như thế nên địch rất chú ý đến việc phòng thủ bảo vệ nó như một cứ điểm chủ yếu trong chiến lược phòng thủ diện địa của quân ngụy Sài Gòn. Ở đây thường xuyên có một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 50, sư đoàn 25 ngụy làm nhiệm vụ canh gác suốt ngày đêm. Trên mặt cầu về ban đêm thường có một trung đội đi tuần tiễu, lùng sục, phát hiện và có xe bọc thép chạy qua lại yểm trợ, có pháo 37 ly bắn dọc hai bên bờ sông để tăng cường sự kiểm soát của chúng vào ban đêm; đồng thời Mỹ còn đặt trận địa pháo 175 ly để với tầm kiểm soát thật xa. Phía dưới mỗi chân cầu, đều có một tiểu đội thường trực canh gác, đặc biệt về đêm mỗi chân cầu địch còn neo từ 1 - 3 tàu, xuồng (không thành quy luật) chạy tuần tra xung quanh. Riêng chân cầu bê tông thứ hai từ phía nam cầu được chúng đặc biệt chú ý. Đây là chân cầu bằng sắt đã bị ta đánh trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nằm ngay giữa dòng nước xoáy rất thuận tiện cho ta tiếp cận. Địch rào kẽm gai xung quanh, cách xa chân cầu khoảng từ 3-5 mét. Một hệ thống trên 500 ngọn đèn điện bóng tròn và ống kết dày đặc làm sáng rực một khúc sông mỗi khi đêm về, kết hợp với dùng người nhái để kiểm tra các chân cầu và đề phòng ta tiếp cận. Có khoảng 10-14 tàu thường trực cùng với hàng chục ghe, xuồng máy chạy qua chạy lại suốt ngày đêm làm nhiệm vụ lùng sục, bảo vệ cầu. Hai bên sông cách cầu từ 500-700 mét, địch bố trí một loạt tháp canh (lực lượng mỗi tháp canh cỡ khoảng một tiểu đội) làm nhiệm vụ canh gác, tuần phục. Ban đêm chúng bắn xôi xả (kể cả lựu đạn và súng phóng lựu M.79) dọc theo hai bờ sông và dưới chân cầu. Những đêm tối trời địch dùng máy bay trực thăng thả pháo soi hai bên cầu. Ngoài hệ thống phòng thủ cẩn mật tại chỗ, địch còn cài cắm bọn bình định ác ôn, mật vụ, thám báo nằm rải rác trong các ấp chiến lược hai bên bờ sông để dò la, phát hiện ta từ xa.

Để bảo vệ chắc chắn, địch còn thường xuyên tổ chức các cuộc hành quân càn quét với lực lượng từ một đại đội đến một tiểu đoàn bằng tàu xuồng, hoặc bằng trực thăng dọc theo ven sông thuộc các huyện Bến Thủ, Tân Trụ, Cần Đước; đặc biệt từ 26 tháng 6 (là thời điểm cuối cùng ta chuẩn bị đánh cầu Bến Lức) địch mở nhiều cuộc phản kích lớn vào hậu cứ ta ở ven đường số 4, ven sông Vàm cỏ Đông, tăng thêm cho Bến Lức một tiểu đoàn pháo cỡ lớn và nhiều xe tăng, xe bọc thép đề phòng ta tiến công, giữ cho được đầu cầu này để tiến hành đánh phá tây - nam Sài Gòn.

Đánh sập cầu Bến Lức không chỉ là yêu cầu của bản thân Phân khu 3, mà còn góp phần hỗ trợ các phân khu bạn triển khai tiến hành đợt hai của cuộc tiến công và nổi dậy.

Không thấy có gì phải hỏi thêm vì mục tiêu thật gọn - chỉ một cây cầu nằm độc lập; vì nhiệm vụ cũng thật rõ - đánh sập cầu. Điều khiến tôi phải suy nghĩ sau khi được anh Tư Thân giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy trận đánh, là làm thế nào hoàn thành được nhiệm vụ. Vì cây cầu này hồi tháng 3, ta đã tổ chức đánh nhưng không thành công chỉ hỏng nặng, một tuần lễ sau đó địch đã chữa ngay, việc lưu thông trở lại bình thường. Như vậy chắc chắn là sau trận này chúng sẽ tăng cường bố phòng, canh gác cẩn mật hơn.

Một điều nữa không thể bỏ qua, sau đòn choáng váng của cuộc tiến công và nổi dậy của ta trong đợt một, địch rút kinh nghiệm, chấn chỉnh lại lực lượng để, một mặt tăng cường phòng thủ nội đô, mặt khác tổ chức các cuộc phản kích ở vùng ven đô với lực lượng hỗn hợp Mỹ - ngụy Sài Gòn. Nguyễn Văn Thiệu đã tung bốn tiểu đoàn thuộc lực lượng dự bị chiến lược làm nhiệm vụ phòng thủ vòng trong ra cùng với lữ đoàn 199 độc lập và lữ đoàn 3 sư đoàn 25 Mỹ tiến hành phản kích ác liệt ở phía nam Sài Gòn thuộc địa bàn Phân khu 3. Chúng còn sử dụng cả máy bay B.52 thả bom rải thảm xuống vùng hạ Cần Giuộc và các vùng cặp hai bên sông Vàm cỏ Đông (Đức Huệ, Bến Lức). Tình hình căng thẳng này ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình chuẩn bị trận đánh. Nếu không suy tính cẩn thận, kế hoạch không tỉ mỉ sát sao thi chúng tôi rất có thể sẽ bị thương vong trước khi triển khai lực lượng chiến đấu.

Đêm đầu tiên sau khi nhận sự phân công của Bộ tư lệnh Phân khu 3, tôi cứ đắm mình trong những suy nghĩ miên man. Nghĩ về ý kiến của các anh trong Bộ tư lệnh Binh chủng trao cho trước lúc lên đường - vào trong đó cố tạo điều kiện được trực tiếp tham gia chiến đấu, nhất là được dự các trận đánh then chốt, qua đó mà tổng kết rút kinh nghiệm gửi ra Binh chủng; nghĩ về lòng tin của tổ chức, của các anh Tư Thân, Chín Cần và các anh trong Bộ tư lệnh Phân khu đã gửi gắm: Đánh lần này cần phải sập cầu, làm như thế nào thì do anh Tư quyết định - rồi các anh siết chặt tay tôi nhấn mạnh - phải chuẩn bị chắc ăn, nghe. Cả Phân khu dõi tin trận đánh đó!

Thái độ thân tình, tôn trọng trong khi các anh giao nhiệm vụ đã khích lệ tôi. Khí thế lạc quan của cán bộ chiến sĩ chấp nhận đi vào đợt hai của cuộc chiến đấu đã thực sự giục giã tôi. Và chính trong tôi lúc này cũng ý thức đầy đủ về nhiệm vụ được giao có quan hệ phối hợp với mặt trận hướng bắc của phân khu đang sắp bước vào thời kỳ sôi động.

Chứng tôi nêu vần đề trao đổi trong cán bộ, tập trung vào ba việc chính:

- Phải tổ chức điều nghiên như thế nào vừa bảo đảm bí mật, an toàn lại đạt hiệu quả cao.

- Phải cần bao nhiêu lượng nổ, cách đóng gói như thế nào để bảo đảm kỹ thuật, đưa được trái vào mục tiêu.

- Phương án thực hành đánh sập cầu theo kiểu nào là chắc ăn, không mắc phải khuyết điểm như lần đánh trước đó.

Cả ba vấn đề thuộc nội dung quyết tâm của trận đánh có quan hệ mật thiết với nhau, không thể nặng nhẹ mặt nào, nhưng việc đầu tiên là phải tổ chức điều nghiên nắm địch thật vững đã.

Huyện ủy Tân Trụ và chi ủy Bình Nhựt (xã có cầu Bến Lức) đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong việc tìm nơi ăn, ở và nắm hiểu tình hình địch. Đặc biệt là ban binh vận huyện thông qua cơ sở nội tuyến cài cắm trong quân đội ngụy đã cung cấp cho chúng tôi khá tỉ mỉ và chính xác về hệ thống phòng thủ vòng trong của địch, đặc biệt là quanh khu vực cầu Bến Lức. Đó là những căn cứ không thể thiếu để chúng tôi triển khai công việc chuẩn bị cho trận đánh. Nhưng nó vẫn không thể thay thế việc mình phải trực tiếp nhìn thấy, sờ thấy mục tiêu, nơi mình có nhiệm vụ đến. Một việc làm mà sau này các đồng chí ở bộ phận nghiên cứu tổng kết đã đặt cho nó một thuật ngữ - phương pháp điều nghiên trực quan. Không có điều nghiên trực quan thì không có chiến đấu. Quan hệ gắn bó này được rút ra từ thực tiễn để trở thành một trong những nguyên tắc Cơ bản của phương thức tác chiến đặc công. Ngày 15 tháng 5 năm 1968, giai đoạn điều nghiên bắt đầu được triển khai. Với đặc công, điều nghiên là chiến đấu, trực tiếp tiếp xúc với địch, vì vậy công tác chuẩn bị phải thật chu đáo cả về tư tưởng và tổ chức. Khoảng 20 giờ cùng ngày, từ một địa điểm cách cầu hơn một cây số về phía hạ lưu, tổ ba người đã sẵn sàng nhận lệnh. Họ ở trần mặc quần áo lót chẽn thân mang dáng dấp người nhái. Không có trang bị gì phức tạp ngoài dây bảo hiểm và vòng cổ mỗi người có đeo một “máy” thở thô sơ.

Đêm hạ tuần, trăng và sao đều bị khuất bởi những đám mây dày đặc phủ kín một góc trời tự bao giờ. Nhưng ánh sáng các loại đèn phòng thủ từ cầu Bến Lức hắt đến vẫn nhìn rõ gương mặt từng người sắp sửa ra đi. Giờ xuất phát không yên tĩnh. Một quả đạn cối 82 ly từ đâu bay tới gần vị trí xuất quân và tiêng súng từ Bến Lức bỗng rộ lên. Rồi đạn pháo cực nhanh bay vèo vèo qua đầu, tiếp theo là những tiếng nổ dậy đất từ phía Đức Hòa, Ba Thu dội về. Không một ai tỏ vẻ hốt hoảng. Tôi rất yên tâm và rất tin về những người đồng đội của mình, mặc dù số anh em cùng tôi làm nhiệm vụ trong trận đánh chưa quen nhau. Các cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị phần lớn đều từ hải quân chuyển sang, được huấn luyện kỹ thuật đặc công nước và bổ sung vào chiến trường cuối năm 1966. Tất cả đều trẻ, hăng hái, nhiệt tình, đã qua các trận đánh cầu Dầu Tiếng, cầu Bình Điền, cầu Cần Giuộc, cầu ông Thìn, v.v...

Đêm thứ nhất của đợt điều nghiên là nắm tình hình khu vực cầu. Tổ đã phát hiện địch có thay đổi một số về bố phòng dưới sông so với lần đánh cầu đợt trước. Chúng tăng thêm xuồng máy tuần tra, đặt thêm một bót gác cách cầu 800 mét; cỏ lác bên bờ sông phía nam (đường dự kiến tiếp cận) bị phá sạch, hàng rào kẽm gai được củng cố lại và làm rộng ra năm mét. Đèn đặt ở trụ cầu bê tông và mố cầu được tăng thêm, tàu chạy xa cầu hơn và không thành quy luật.

Nhiệm vụ điều nghiên của đêm thứ hai là tiếp tục nghiên cứu đường chuyển trái vào, quy luật tàu xuồng máy chạy, quy luật canh gác dưới chân cầu. Nhưng khi đến chân cầu bê tông thì gặp một xuồng máy địch chạy ngang qua, đuôi tàu vướng vào dây bảo hiểm, bọn địch trên xuồng liền phản ứng bắn súng báo động cho toàn căn cứ. Thấy tình hình không bảo đảm an toàn, tổ điều nghiên nhanh chóng rút khỏi vòng nguy hiểm, trở về căn cứ. Trong khi đó địch hết sức hoang mang, chúng bắn bừa bãi các loại đạn xuống nước, đèn pha chiếu khắp nơi, tàu và xuồng máy chạy tuần tiễu quanh các chân cầu suốt đêm. Hướng tiếp cận bị lộ, từ đó về sau địch rất chú ý phía nam cầu (thuộc huyện Tân Trụ), càng ra sức tuần phòng nghiêm ngặt hơn. Như vậy là công tác điều nghiên chưa hoàn thành. Hướng tiếp cận từ ngoài biển vào không sử dụng được. Tình hình trở nên khó khăn.

Tạm đình hoãn việc điều nghiên một vài ngày cho tình hình trở lại bình thường. Đêm 29 tháng 5, công việc nắm địch lại được tiếp tục. Lần này chúng tôi quyết định toàn đơn vị vượt lộ 4 rời Tân Trụ sang Bến Thủ để đổi hướng tiềm nhập. Đêm thứ ba, do kịp thời chuyển hướng nên việc điều nghiên đạt kết quả tốt. Nói chung hệ thống phòng thủ ở hướng Bến Thủ giống như Tân Trụ, chỉ khác là địch tại đây có phần chủ quan hơn.

Cùng với việc điều nghiên, câu hỏi đặt ra từ đầu là lượng nổ cần cho việc hoàn thành nhiệm vụ. Đây là vấn đề phức tạp, có quan hệ đến thành bại của trận đánh mang ý nghĩa then chốt; không thể trả lời một cách giản đơn, võ đoán được, mà cần phải có sự tính toán khoa học phù hợp với thực tiễn. Một cuộc họp trao đổi để tìm “thông số” kỹ thuật đã được tổ chức gấp tại một địa điểm ngay bờ nam sông Vàm cỏ Đông (thuộc địa phận huyện Bến Thủ) cách Bến Lức chừng khoảng ba cây sô. Không khí cuộc “hội thảo” diễn ra rất sôi nổi và đầy hào hứng, bởi ai cũng ý thức được tính nghiêm túc của vấn đề.

Thật xúc động biết bao khi có dịp ngắm nhìn gương mặt các chiến sĩ sắp đi vào trận đánh. Tuổi đời mới trên dưới hai mươi mà ai nấy đều già dặn với đường nét, dáng vẻ của những người đã có chiều dày từng trải, chín chắn trong suy nghĩ, thận trọng trong hành động. Nước da mỗi người vẫn còn đậm màu xanh sạm của nắng gió Trường Sơn, của những năm tháng sống cùng muỗi, vắt rừng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Nhưng trong .khóe mắt của hơn hai mươi người con quê ở miền Bắc hiện đang đứng trong thế trận tây - nam Sài Gòn vẫn ngời trong, luôn hướng về cái đích sáng lạn để đi tới.

Tôi chăm chú lắng nghe và chắt chiu từng khía cạnh nhỏ những ý kiến của mỗi người vì đây là những kinh nghiệm thực tiễn chiến đấu trong đó có mồ hôi và máu của đồng đội để lại, chứ hoàn toàn không chút cảm tính, sách vở nữa. Quyết tâm chiến đấu là cả một quá trình chuẩn bị, cân nhắc của người chỉ huy nhưng chỉ khi nào quyết tâm đó được mọi người đóng góp, trên dưới đồng lòng, mới trở thành yếu tố sức mạnh để chiến thắng kẻ thù. Sau khi biểu dương những ý kiến đóng góp của anh em, tôi nói tiếp: Bến Lức được xem như một kiểu loại căn cứ liên hợp quân sự thu nhỏ của Mỹ - ngụy ở miền Nam. Ở đây địch tập trung nhiều sắc lính, nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh, được kết đan thành một hệ thống phòng thủ cẩn mật nhiều tầng nhiều lớp, để không những bảo vệ cây cầu mà còn làm nhiệm vụ một căn cứ khởi xuất các cuộc hành quân đánh phá cơ sở của ta, kìm kẹp nhân dân quanh vùng. Vì vậy theo tôi, công thức tính lượng nổ cho trận đánh này phải thỏa mãn cả hai yêu cầu: Đánh sập cầu Bến Lức, đồng thời diệt sinh lực địch và phương tiện chiến tranh ở quanh khu vực cầu, góp phần phá bung một điểm tựa chủ yếu trong hệ thống phòng thủ vành ngoài của địch ở tây - nam Sài Gòn. Như thế là ta làm theo kiểu một công đôi ba việc...

- Vậy lượng nổ bao nhiêu ký (ki-lô-gam) thì đủ, anh Tư? - Một đồng chí cán sự huyện Bến Thủ cùng dự họp, sốt ruột hỏi.

- Một ngàn ký. - Tôi trả lời.

Hầu hết những người dự họp đều tròn xoe mắt nhìn tôi. Thông cảm được sự ngạc nhiên của mọi người, tôi nói tiếp: Phải dùng một lượng nổ như vậy. Tiết kiệm để đánh lâu dài là đúng nhưng khi cần cũng phải dám đánh lớn. Ở chiên dịch Điện Biên Phủ ta đã dùng trái nổ ngàn ký để đánh cứ điểm đồi Al. Chỉ khác là hồi đó ta đào hầm để đưa trái nổ cỡ bự đó vô đánh sập căn cứ địch; còn bây giờ ta dùng trái nổ đi theo đường sông, đưa vô đúng cái trụ cầu mà ta định đánh trong điều kiện địch bố phòng cẩn mật...

Khi chúng tôi đã tìm ra công thức về lượng nổ thì thuốc nổ TNT dự trữ của Phân khu 3 đã cạn vì đã huy động phục vụ cho đợt một và đợt hai của cuộc tiến công và nổi dậy.

Vì ý nghĩa quan trọng của trận đánh nằm trong khuôn khổ của đợt hai của cuộc tiến công và nổi dậy trên toàn khu vực Sài Gòn, nên Bộ tư lệnh Phân khu 3 không thay đổi quyết tâm. Anh Tư Thân, anh Chín cần từ sở chỉ huy cơ bản gửi thư động viên tôi ráng chờ, sẽ có đủ lượng thuốc mà anh Tư cần. Hãy động viên anh em giữ vững quyết tâm.

Thế là một “chiến dịch” vận chuyển thuốc nổ được triển khai sau đó. Một đội quân gồm mấy chục con người nai nịt gọn gàng âm thầm luồn qua đồn bót địch, băng qua Đồng Tháp Mười lên tận vùng giáp biên Ba Thu (Đức Huệ) để vận chuyển thuốc nổ về.

Ngày các anh trong đội quân vận chuyển nhận lệnh lên đường cũng là ngày chúng tôi thấp thỏm mong chờ, nôn nao tính đến từng giờ. Và khi được thông báo ngày các anh về thì ai nấy đều hồi hộp không sao ngủ được, cứ thức hoài mong ngóng.

Phút đầu tiên gặp nhau thật xúc động không nói nên lời. Cả người tiếp nhận và người vận chuyển đều nhìn nhau trong im lặng - cái im lặng chất chứa những lo toan, những thương cảm về nhau. Trong ánh sáng đèn pha từ cầu Bển Lức hắt tới, tôi nhìn rõ đồng chí đội trưởng đội vận chuyển dáng người thấp đậm, hai má tóp gày.

- Thuốc nhồi trái đủ rồi đó, anh Tư. - Vừa nói anh vừa nâng hai tay đưa tôi gói thuốc nổ nặng cỡ mười ký, được gói bằng ni lông rất cản thận đề phòng thấm nước.

Đón nhận gói thuốc nổ vuông vắn từ tay anh, tôi không sao cầm được nước mắt! Bởi chuyển đưa được về đây chỉ một ký thôi đâu có đơn giản? Con đường mà các anh đi qua là con đường máu, đã có biết bao nhiều đồng đội của chúng ta ngã xuống trên đường tiến xuống chi viện cho chiến trường đồng bằng sông Cửu Long. Con đường ấy giờ đây, sau đợt một của cuộc tiến công và nổi dậy, Mỹ ngụy đã gia tăng đánh phá với mức ác liệt hơn bất cứ thời kỳ nào trước đó. Dọc vùng giáp biên (Đức Huệ - Kiến Tường) nơi các anh đến nhận thuốc nhồi trái TNT đang bị máy bay Mỹ quần đảo, trút bừa bãi hàng tấn bom nổ chậm, bom từ trường; đêm đến pháo bầy thi nhau giội theo tọa độ trực thăng thay phiên nhau rõi đèn, đánh phá hành lang, nhằm chia cắt thế trận liên hoàn giữa các phân khu của ta bao quanh Sài Gòn, ngăn chặn lực lượng từ R xuống chi viện cho mặt trận tây - nam Sài Gòn. Không nâng niu, không trân trọng sao được khi được biết những ký thuốc nổ này đã nhuộm máu đồng đội mình, với ý thức thật đẹp - bảo đảm thuốc đến tận tay chúng tôi, góp phần vào thắng lợi trong trận đánh tới.

- Xin thành thật cám ơn những anh em còn sống và kính cẩn nghiêng mình trước hương hồn những người ngã xuống để cho chúng tôi có sức mạnh bước vào trận chiến đấu mới.

Tôi đã nói tự đáy lòng những suy nghĩ cảm xúc của mình khi đón nhận gói thuốc nổ từ tay đồng chí đội trưởng vận chuyển.

Đồng chí đội trưởng trở nên lúng túng, giọng run run cảm động:

- Trách nhiệm chung mà, anh Tư!

Cùng lúc mọi công tác chuẩn bị cho bao gói, kết trái đã được song song tiến hành như vải, nilông che mưa, dây thừng, dây gân, ruột xe hơi; quan hệ với địa phương để mượn ghe, xuồng, xin tre, búp dừa để chằng buộc, làm phao và ngụy trang...

Khi nhận hết lượng nổ, chúng tôi có đủ điều kiện bước vào triển khai đóng gói. Mỗi công việc chuẩn bị cho trận đánh giữa vòng vây của quân thù đều có những nội dung phong phú với tất cả tính phức tạp của nó. Việc vận chuyển lượng nổ về tới đây được xem như một cuộc chiến đấu đòi hỏi phải trả giá bằng máu xương, thì việc biến khối thuốc nổ đó thành một trái nổ cũng không thể làm theo con số cộng đơn thuần, muốn đóng gói theo hình thù nào cũng được. Một trọng lượng lớn như thế, khi thả xuống, yêu cầu chỉ là là chìm cách mặt nước khoảng hai mươi phân. Nổi không được, như thế sẽ lộ. Nhưng nếu tính toán không kỹ, kết cấu không đúng kỹ thuật thì cả khối thuốc thả xuống Sẽ tức khắc chìm xuống đáy sông, dẫn đến một thất bại kép: không phá sập được cầu và mất toi cả ngàn ký thuốc!

Do tính toán chuẩn bị trước, nên khi thuốc về là bộ phận đóng gói kết thành nhiều trái nhỏ, rồi kết lại với nhau thành một trái lớn, được bao bọc bởi ba lóp vải, một lớp nilông. Hai trăm kíp nổ thường, được gói xen vào các lớp thuốc TNT để làm kíp phụ. Riêng trái nổ mồi nặng 20 ký có gắn sáu kíp hóa học loại hẹn giờ.

Trong khi tính toán thiết kế trái, chúng tôi có chú ý tận dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ, vừa đỡ phức tạp vừa ngụy trang họp với địa hình. Chẳng hạn, dùng nẹp tre để kết trái lớn, buộc bằng dây gân; dùng vải nilông để kết trái nhỏ và buộc bằng dây thừng; dùng búp dừa nước kết thành hình chữ nhật buộc hai bên trái làm phao nâng, có tác dụng ngụy trang khi trái theo dòng chảy vào trụ cầu; hai đầu trái thì dùng phao nâng bằng hai ruột xe ô tô loại lớn; phía trên mặt cũng dùng một khối búp dừa nước kết thành hình mái nhà để thu nhỏ mục tiêu khi đưa trái xuống nước.
Tất cả số trái nhỏ được gói trong ba ngày; trái lớn được liên kết dưới một ghe to trọng tải hai tấn, trước ngày đi chiến đấu một buổi. Làm như vậy là đề phòng nếu gặp bất trắc, có điều kiện phân tán nhỏ lượng thuốc, không để lọt vào tay địch, bịt được các dấu hiệu địch nghi ngờ...

Cứ mỗi việc hoàn thành là chúng tôi lại thấy nhẹ nhõm, đầu óc bớt căng thẳng. Tình hình lúc này rất khẩn trương. Ta đã bước vào đợt hai của cuộc tiến công và nổi dậy. Hướng bắc của Phân khu chiến sự đang diễn ra rất ác liệt. Các đơn vị chủ lực của phân khu 3 phải đánh liên tục với lữ 3 sư đoàn 9 Mỹ ở vùng ven, nên không lách qua để vào nội đô được. Chỉ có hai tiểu đoàn 6 và tiểu đoàn 308 bộ binh sau khi chiến đấu ác liệt với tiểu đoàn 38 biệt động quân và tiểu đoàn 2 thủy quân lục chiến ngụy, đến ngày 2 tháng 6 vượt qua ngã tư Phú Định, bám đường Hậu Giang tiến vào nhưng bị tiểu đoàn 30 biệt động quân ngăn chặn, ta phải giành giật với địch từng căn nhà, tiến vào đến đường Khổng Tử, Đồng Khánh. Khi tiểu đoàn 6 vượt lên đường Nguyễn Trãi thì đội hình tiến công của ta bị chia cắt: tiểu đoàn 6 ở đường Nguyễn Trãi, tiểu đoàn 308 ở đường Khổng Tử - là những đường phố chính trong nội đô Sài Gòn...

Anh Tư Thân chỉ thông báo như vậy, nhưng đó chính là một nhắc nhở, một mệnh lệnh đối với tôi, trong khi công việc chuẩn bị trận đánh cầu Bến Lức vẫn còn ngổn ngang, tôi chưa thể báo cáo với các anh về ngày N và giờ G của trận đánh được.

Tôi đứng ngồi không yên! Yêu cầu chung của cài thế đòi hỏi phải khẩn trương trong chuẩn bị, nhưng tôi vẫn không quên lời anh Tư Thân giao nhiệm vụ lúc ban đầu - Phải chuẩn bị cho chắc ăn. Dù có khó khăn mấy, một cuộc trao đổi về kế hoạch trận đánh vẫn được tổ chức. Trước hết phải tìm cho được vị trí ém quân để làm tiếp các công việc còn lại của nhiệm vụ chuẩn bị chiến đấu. Cùng với cán bộ phụ trách và những đồng chí được giao nhiệm vụ trực tiếp đánh cầu, chúng tôi đi tới đi lui, cuối cùng lựa được một địa điểm cặp bờ nam sông Vàm cỏ Đông, phía thượng lưu cầu Bến Lức, cách ấp chiến lược chừng 300 mét, là nơi trú quân. Kể thì cực kỳ nguy hiểm vì ngay cạnh nách địch, nhưng ém quân nơi đó lại tạo bất ngờ đối với quân địch. Để bảo đảm giấu quân (9 đồng chí) và phương tiện khí tài cồng kềnh ở đây được an toàn, chúng tôi quy định mọi người phải chấp hành nghiêm ngặt việc đi lại, ăn ở. Hai mươi ngày chúng tôi sống và làm việc dưới tán và gốc cầy dừa nước đầy muỗi vàng quả thật gay go! Không ai được rời vị trí. Việc cung cấp lương thực do một đồng chí cán bộ địa phương lo liệu chuyển đến.

Đến lúc này kế hoạch chiến đấu chỉ còn vấn đề là lo sao đưa trái đến đúng trụ cầu định đánh. Đầu việc tuy gọn nhưng nội dung lại rất phức tạp, nó là một cuộc đấu trí với địch, là then chốt của toàn bộ trận đánh, như giai đoạn về đích của cuộc thi. Vì thế một mặt xin ý kiến các anh trong Bộ tư lệnh Phân khu 3, tranh thủ các đồng chí cán bộ, cấp ủy có trách nhiệm của huyện Bến Thủ, xã Bình Nhựt; đồng thời trao đổi lần cuối với các đồng chí cán bộ phụ trách và số đồng chí được giao trực tiếp đưa trái vô cầu.

Ngày hôm sau, tại một địa điểm cách vị trí dự định ém quân không xa, tôi đã trình bày quyết tâm một cách tự tin nhưng vẫn thấy hồi hộp! Bản thân trưởng thành từ các trận chiến đấu đặc công trên bộ thời kháng chiến Chín năm đánh Pháp, nay được giao chỉ huy đánh đặc công nước và là trận đầu trong đánh Mỹ.

Tôi trình bày theo hệ thống mà mình đã sắp xếp:

1. Mục tiêu đánh là chân cầu bê tông thứ hai (bờ nam sông, phía thị xã Tân An lên). Sở dĩ ta chọn đánh chân cầu này vì có mấy cái lợi:

- Dễ tiếp cận hơn so với các chân cầu khác.

Nếu chân cầu này gãy, kéo hai nhịp thứ hai, thứ ba phía nam cầu rập theo, mặt cầu đứt khoảng trên 100 mét

- Chân cầu này sập khó chữa hơn các chân cầu khác.

2. Đường đưa trái theo hướng nguồn nước xuống, nhưng phải chọn đêm tối trời và thời gian nước ròng (nước xuống) phải nhiều giờ mới bảo đảm đưa trái (thả trôi) vào trụ cầu được an toàn, thuận lợi.

3. Trái sẽ được vận chuyển bằng ghe to, đến cách cầu khoảng một cây số thì nhận chìm ghe, hai đồng chí đưa ghe vào vị trí đã định; còn tổ chiến đấu ba người lo điểu chỉnh phao, sau đó đưa trái vào mục tiêu theo các động tác sau: Phía bên trái trước khối nổ có một dây xanh dài 50 mét do đồng chí Trung cột vào người, bên phải phía trước có một dây nhánh do đồng chí Bảy cột vào người cả hai thả phía trước trái, hướng cho trái đi theo dòng nước, sau trái là đồng chí Dương cũng cột dây dài 50 mét vào người có nhiệm vụ vừa đi vừa điều chỉnh cho trái xuôi đúng hướng, đồng thời điều chỉnh cả phao, chú ý phát hiện trái chìm để kịp thời xử lý. Trong hai đồng chí đi trước có nhiệm vụ, khi một người nào đụng chân cầu trước thì nhanh chóng cột dây vào trụ và kéo trái về ngay chân cầu; làm xong nhiệm vụ, thả kỹ thuật theo dòng nước về phía Tân Trụ, còn đồng chí Dương đi sau trái có nhiệm vụ cột dây thứ ba liên kết giữa trái và chân cầu, sau đó cũng rút về điểm hẹn. Làm cách gì cũng phải gắng đưa bằng được lượng nổ vào chân cầu mới đủ sức đánh gãy chân cầu theo ý định.

4. Khi trái cách chân cầu khoảng 200 mét, đồng chí phía sau có nhiệm vụ bóp kíp hóa học; và khi cố định trái vào chân cầu, cần nhanh chóng theo dòng nước rời khỏi cầu về điểm hẹn ở bờ bắc sông Bắc Tân gặp hai đồng chí trước, đợi nghe tiếng nổ, rồi toàn tổ rút về căn cứ mới của đơn vị.

5. Xử lý bất trắc; Khi đưa trái gần tới chân cầu mà bị tàu hoặc xuồng máy địch phát hiện thì một trong ba người, người nào gần địch hơn sẽ dùng lựu đạn chiến đấu, còn lại hai người nhanh chóng đưa trái tới mục tiêu và làm đầy đủ các động tác chuẩn bị gây nổ xong mới rút.

Trên đây là quy định chung, còn ngày giờ hành động dự định như sau:

Đêm 19 tháng 6, khảo sát mục tiêu lại lần cuối để phát hiện những thay đổi lớn của địch.

Trưa này 20 tháng 6 kết thành trái lớn lên ghe.

19 giờ ngày 20 tháng 6, tất cả những người tham gia chiến đấu tập trung để kiểm tra và nghe phổ biến mệnh lệnh chiến đấu.

20 giờ ngày 20 tháng 6 xuất phát.

Buổi phổ biến quyết tâm chiến đấu diễn ra nhanh gọn. Chỉ có vài ý kiến hỏi về phương pháp điểu chỉnh phao (vì đây là việc khó) để giữ trái nổ ở trạng thái nổi chìm cho phép. Sự nhất trí ở đây coi như là mệnh lệnh chính thức; riêng vấn đề thời gian thì đang còn ở mức dự kiến. Nếu tình hình thời tiết, khí tượng thủy văn diễn ra đúng quy luật bình thường hàng năm thì dự kiến thời gian kể trên là chính thức.

Thiên thời địa lợi đã ủng hộ chúng tôi. Thời gian đã không phụ đối với những vất vả gian truân của các chiến sĩ đặc công trong suốt quá trình chuẩn bị.

Ngày giờ đi vào trận đánh đúng như dự kiến.

20 giờ ngày 20 tháng 6 năm 1968 đã đến!

Những người “thiết kế” (đóng gói) trái nổ đã chuyển trái ra sông Vàm Cỏ Đông bằng ghe. Mang trên mình trái nổ bề thế, đảm được yếu cầu kỹ thuật. Trước hết bơm thêm hơi vào phao cao su, kết thêm búp dừa để giữ trái thăng bằng với mặt nước và độ cao đầu tiên khoảng 20 phân. Phải đợi một giờ sau đó cho phao ngấm nước mới bắt đầu đưa trái nổ vào mục tiêu.

11 giờ khuya, nước bắt đầu ròng mạnh, tôi lệnh cho bộ phận nghi binh tiếp tục thả bèo, rong trôi tự nhiên tạo thành một mật độ dày trên mặt nước, nhằm che mắt địch.

12 giờ đúng, địch vẫn tuần tiễu và bắn súng cầm canh, đạn vèo vèo bay qua đầu. Tiếng động cơ tàu xuồng vẫn ầm ì quanh cầu Bến Lức. Nửa giờ sau, không gian trở lại yên tĩnh.

Giờ xuất phát tiến công đã đến!

Tổ chiến đấu đã ở tư thế sẫn sàng. Trong quầng sáng từ cầu Bến Lức hắt dọc theo sông, tôi nhìn rõ gương mặt các đồng chí Dương, Trung và Bảy - những người trực tiếp đối đầu với địch đêm nay, đứng theo đội hình hai trên, một dưới cạnh trái nổ. Tất cả đã sẵn sàng. Ai nấy đều kiên quyết, tự tin.

Tôi cũng bì bõm dưới nước, đến bắt tay và ôm hôn từng người. Nước ròng mạnh, làm chúng tôi chao đảo, càng xích gần nhau và thương nhau vô hạn, trước lúc chia tay.

- Chúc thắng lợi!

Tôi lên bờ, xuôi về Tân Trụ, tại một ấp cách Bến Lức một cây số - nơi đặt sở chỉ huy để theo dõi cuộc hành trình của trái nổ và chờ đội một tiếng nổ chiến thắng.

Giờ G đã đến. Lúc ấy là 1 giờ 30 phút sáng.

Chúng tôi nghếch tai về phía Bến Lức để đợi nghe, để mừng vui.

Nhưng giờ G trôi qua, không gian vẫn yên tĩnh. Rồi tiếng gà gáy sáng dồn dập từ ấp chiến lược vọng ra. Cúng có thể sai số. 'Thời gian bị chậm lại, đó là điều dễ chấp nhận. Vì trên đường tiếp cận mục tiêu, tổ điều khiển trái còn phải qua hai bót gác địch và một ấp chiến lược kề bên bờ sông. Chậm nửa tiếng, một tiếng có nghĩa lý gì, miễn sao an toàn là được. Nhưng tôi nghi ngờ ngay cả cái lý lẽ biện bạch để an ủi mình. Vì kim đồng hồ đã chỉ con số 2.

Sự cố! Đúng là sự cố rồi. Nhưng hiện tình ra sao? Tôi lo lắng và nín thở. Ngực tức vì tim đập liên hồi, cổ tắc nghẽn như có vật chẹn.

Đang lúc bối rối như thế thì Dương mò về. Lúc này đã là ba giờ sáng, tiếp đến là Trung và Bảy. Tất cả đều ỉu xìu, buồn chán.

Vừa nhìn thấy các đồng chí tổ chiến đấu trở về, tôi hỏi liền:

- Sao? - Tôi đến gần định hỏi dồn, trách móc là tại sao lại về không, nhưng đã kìm lại, vì nhìn nét mặt buồn rầu của các đồng chí.

- Báo cáo anh Tư, trái nổ vẫn an toàn! - Dương mở đầu.

Và sự việc được sáng tỏ sau ki nghe tổ chiến đấu thuật lại: Trái nổ đến cách mục tiêu 200 mét, đồng chí Dương mới bóp được ba kíp hóa học thì trái chìm sâu (sau này chúng tôi nghiên cứu tìm nguyên nhân là càng gần trụ, nước càng chảy xiết, chỉ cần một tác động nhẹ vào ừái cũng có thể làm chìm). Thấy thế, đồng chí Dương liền lặn xuống sâu để nâng trái lên, nhưng nước ròng đập quá mạnh, đẩy Dương càng xa trái thêm. Vì không đủ sức lội ngược dòng chảy, hơn nữa gần cầu nên Dương dùng kỹ thuật thả theo dòng về điểm hẹn ở Tân Trụ. Cùng lúc ấy Trung và Bảy lặn sâu xuống nước bốn mét nhổ sáu kíp hóa học để đảm bảo an toàn cho trái. Lúc này nước cũng đứng và bắt đầu lên. Trăng sáng và trời cũng sắp sáng, nếu loay hoay giữa sông địcb phát hiện sẽ lộ, hỏng việc lớn đang làm dở. Nghĩ như thế, cả hai làm dấu nơi để trái dưới đáy sông xong, liền trở về điểm hẹn báo cáo sự việc.

Nhổ kíp nổ để đảm bao an toàn và giấu nó vào một nơi để tính chuyện làm ăn sau này là một việc làm vừa thể hiện tinh thần dũng cảm, vừa tỏ rõ ý thức trách nhiệm chính trị cao của hai đồng chí Trung và Bảy - những chiến sĩ đặc công không hề nản chí trước khó khăn, mà là với tinh thần thua keo này ta bày keo khác.

Tôi thấy không có lý do gì để trách cứ mà chỉ thêm cảm phục mến yêu và tự hào về những người đồng đội của mình, càng gian nan nguy hiểm, càng âm thầm thể hiện cái tư chất đặc biệt của một binh chủng đặc biệt. Còn nguyên nhân gây chìm không phải lỗi ở đồng chí Dương, mà là một bài học chung cho tất cả chúng tôi. Sự đơn giản chưa suy tính đến hết các chi tiết mang tính khoa học bao giờ cũng phải trả giá.

Quyết tâm chiến đấu của chúng tôi không thay đổi. Trận đánh lại được tiếp tục ngay đêm 21 tháng 6, chỉ điều chỉnh một số điểm cho phù họp. Đồng chí Trung thay đồng chí Dương làm tổ trưởng, đồng chí Thân dự bị, thay vị trí đồng chí Trung. Tổ chiến đấu sẽ dùng một ruột xe hơi to cột dây lại, một đầu dây lặn móc vào trái rồi từ từ nâng trái lên, chuyển lùi lại một ít; đồng thời điều chỉnh phao cho thích họp, sau đó tiếp tục đưa trái vào mục tiêu. Nhưng vì con nước ròng thời gian ngắn, câu trái lên được một đoạn thì trời sắp sáng, nước triều cũng đứng lại để bắt đầu lên. Điều kiện thực hiện nhiệm vụ không còn, đồng chí Trung quyết định rút kíp hóa học, cho trái chìm lần thứ hai và được giấu ở một địa điểm cách cầu 500 mét về địa điểm hẹn xin ý kiến.

Xét thấy tổ chiến đấu sau nhiều đêm ngâm nước, nhất là hai đêm qua phải ngâm minh dưới sông để điều trái và giấu trái rất vất vả, căng thẳng, ăn uống lại thiếu thốn, sức khỏe giảm sút, chúng tôi quyết định tạm hoãn kế hoạch lại, chuẩn bị tốt hơn và chờ con nước ròng nhiều thời gian lại.

Con nước ròng lớn đã có. Trận đánh được bắt đầu sau một tuần lễ đình hoãn. Lần này chúng tôi quyết định: Đêm 27 tháng 6 làm công tác chuẩn bị thuốc mồi, kíp hóa học, phao búp dừa và dây kéo trái thật đầy đủ và đồng bộ. Đêm 28 đưa trái vào mục tiêu. Lúc này đồng chí Dương trở lại làm tổ trưởng, chỉ huy điều khiển trái như kế hoạch cũ. Nhưng tình hình địch đã có thay đổi. Chúng tăng thêm lực lượng pháo và cơ giới để bảo vệ cầu. Các vọng gác cũng được bổ sung thêm lính tuần phòng cẩn mật hơn. Pháo sáng bắn liên tục trên sông. Tổ chiến đấu vẫn bình tĩnh tiến hành “cẩu” trái từ sâu lên, điều chỉnh phao và đưa trái tiếp cận mục tiêu. Nhưng trên đoạn sông gần cầu, đèn pha cùng pháo sáng của địch rọi sáng rõ như ban ngày, nên kế hoạch dự định đánh vào đêm 28 tháng 6 lại không thành.

Một cuộc hội ý chóp nhoáng với các đồng chí cán bộ phụ trách được tiến hành ngay sáng ngày 29. Chúng tôi quyết định trận chiến đấu lại được tiếp tục trong đêm nay (29 tháng 6). Vì tin tức cơ sở của ta từ Bến Lức bao cho thấy địch vẫn không hề hay biết gì ta chuẩn bị tiến công. Địch tăng cường thêm lực lượng là theo yêu cầu chung của tình hình. Pháo sáng và đèn pha hoạt động đêm qua ở gần khu vực cầu cũng chỉ là ngẫu nhiên, chứ không có lý do gì đội xuất, về phía ta, tổ chiến đấu mệt, nhưng cũng có thêm kinh nghiệm, năm chắc hơn quy luật hoạt động của địch, hình dung nhiều chi tiết địa hình quanh khu vực cầu.

Mặc dầu phải làm lại đến lần thứ ba, nhưng ai cũng đinh ninh lần này là chắc ăn.

Đêm xuống nhanh.

Còn bốn tiếng nữa mới đến giờ G mà mọi người ở sở chỉ huy tiền phương đã im lặng dõi theo và hồi hộp đợi chờ.

Hai kim chập một, chỉ đúng 12 giờ - cái giờ G quy định dã đến. Không gian bỗng trở nên yên ắng, có thể nghe rõ nhịp đập hồi hộp ở noi con tim mình.

Sự háo hức mong đợi đến căng thẳng bỗng chốc biến thành sự nghi ngờ, kèm theo một loạt câu hỏi đặt ra: Lại sự cố nữa? Nhưng là sự cố gì, lành hay dữ? Trái nổ còn không, cất giấu ra sao, ở nơi nào, liệu ngày mai địch có phát hiện được không? Hay là, hay là mọi việc ngược lại, mất hết (!?)

Đang hoang mang suy nghĩ mung lung như thế, thì một tiếng nổ dậy đất từ phía Bến Lức vọng về. Lúc này là 12 giờ 5 phút Như vậy giờ G thực tế chậm 5 phút so với giờ G kế hoạch. Tất cả chúng tôi ùa ra mép sông Vàm cỏ Đông để hướng về phía Bến Lức. Dấu hiệu dễ thấy là quầng sáng xanh của cây đèn cao áp thủy ngân biến mất, chỉ còn có quầng đỏ của lửa cháy mỗi lúc một bốc cao, lan xa, sáng cả một góc trời tây - bắc. Cả Bến Lức chìm trong biển lửa, im lìm, không một tiếng động của súng, của động cơ xe tăng, xe bọc thép, của tàu xuồng máy địch phản ứng. Mãi một giờ sau, mới nghe tiếng pháo từ Tân An, Bình Chánh dội về, một thứ thị uy vu vơ, bất lực.

Vui! Thật vui!

Cái vui không hò reo nhưng náo nức, rung động hòa nhập cùng nhịp đập nơi con tim của mỗi người. Chỉ nghe thấy tiếng nổ, chỉ nhìn rõ quầng lửa đã thấy sảng khoái trong tâm hồn; giữa lúc đó thì tổ chiến đấu của đồng chí Dương trở về an toàn, khiến cái vui càng đậm đà, quên cả mình đang nằm trong thế bốn bề đều có địch vây ép.

Tôi ôm hôn từng người, lòng tràn đầy xúc động, muốn khóc.

- Sao lại chậm năm phút hả Dương? - Vừa ôm Dương, tôi vừa hỏi như vậy.

- Báo cáo anh Tư! - Dương rời tôi ra rồi nói tiếp - Trung thay tôi làm nhiệm vụ bóp kíp, tôi và Bảy đi trước trái. Đúng 23 giờ 30 phút, trái được đưa vào chân cầu, lợi dụng đoạn hàng rào yếu, Trung dùng sức nặng của trái đẩy sát chân cầu và 35 phút sau thì trái nổ...

Thế là rõ. Giờ G đến sớm hoặc muộn cũng là nét đặc biệt của cách đánh đặc công, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong quá trình tiềm nhập mà ta không thể lường hết được.

Bây giờ thì chúng tôi mong cho trời chóng sáng để nhận diện kẻ thù sau trận bão lửa của ta đêm qua. Vì, nổ chưa phải dấu hiệu báo rõ kết quả. Nổ nhưng không gây đổ cầu, không diệt được địch, không phá hủy được phương tiện chiến tranh, thì chỉ mới thắng lợi về tâm lý, không đạt được mục đích trận đánh đề ra.

Khi mặt trời vừa ló rạng từ chân trời phía Cần Giuộc, chúng tôi dã phân công nhau cải trang sáp vô đường số 4, đoạn từ thị xã Tân An - Bến Lức, Bến Lức - Bình Chánh. Đến nơi đã thấy ngay cái cảnh nhốn nháo hoảng loạn. Xe từ Sài Gòn xuống, từ Long An, Mỹ Tho, Cần Thơ lên đều tắc nghẽn, chật cứng, không sao đi nổi. Nhịp cầu thứ sáu bị sập đúng như dự kiến. Các tháp canh, vọng gác ở hai đầu cầu cũng bị đổ tan, xác địch nằm còng queo. Dưới sông về phía hạ lưu, tàu xuồng địch vãn bớt, vì áp lực của trái nổ cái đắm, cái vỡ, cái bay xa; quang cảnh đổ nát như sau trận bom. Buổi chiều, chúng tôi nhận được tin tức do cơ sở của ta từ trong báo ra: Địch phải hủy bỏ cuộc càn quét vào Tân Trụ, Cần Giuộc buổi sáng nay (30 tháng 6).

Đánh sập cầu Bến Lức, cắt đứt hoàn toàn đường số 4, không chỉ gây cho địch nhiều thiệt hại mà còn tạo nên sự chấn động lớn với quân địch, góp phần vào thắng lợi trong cuộc tiến công và nổi dậy chung của toàn Miền trong đợt hai đang diễn ra sôi sục.

Sau này được anh Tư Thân cho biết thêm về việc chuẩn bị cho cuộc tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 của Phân khu 3; Thực hiện chỉ thị của Trung ương cục và Bộ chỉ huy Miền, chỉ trong vòng hai tháng, Phân khu 3 đã hoàn thành một khối lượng có thể nói là kỷ lục: rút 500 đảng viên từ các lực lượng huyện, xã đưa vào các tiểu đoàn “mũi nhọn” nhằm nâng cao tăng cường sức mạnh cho các đơn vị chiến đấu; rút 300 đảng viên của các huyện bên ngoài vào tăng cường cho các huyện nội thành; tổ chức vận chuyển hai mươi tấn vũ khí đạn dược từ R đưa xuống các hướng, các mũi và chôn giấu ở các khu vực Bình Đức, Bình Chánh, An Nhựt Tân, Long Cang, Long Định; điều động các đơn vị vào vị trí tập kết, ém quân ở các vùng sâu, sát ven đô, ven lộ để thực hiện... Làm bằng ấy công việc thật không đơn giản, khi mà chiến trường Long An ở thời điểm này thật hiểm nghèo. Ngoài quân ngụy dàn ra đóng thành các đồn bót, có thêm bốn lữ đoàn Mỹ (hai lữ đoàn thuộc sư đoàn 25, lữ 199 và lữ đoàn 3 thuộc sư đoàn 9) với số pháo 105 và 155 ly cực nhanh tăng lên đến 196 khẩu, có thể bắn tập trung vào bất cứ điểm nào trong tỉnh, ấy là chưa kể 50 khẩu pháo 155 đến 203 ly đặt ở các hạm tàu có thể bắn bất cứ chỗ nào cáp hai bờ sông; lại có thêm 300 tàu chiến lớn nhỏ ầm ầm suốt ngày đêm trên các lạch sông. Cường độ chiến tranh ở Long An tăng lên rất cao, không một mảnh đất nào của Long An không bị bom đạn Mỹ tàn phá, nhà cửa tiêu điều, ruộng vườn xơ xác, cuộc sống của nhân dân bị đảo lộn. Long An chuẩn bị cho một cuộc tiến công trong tình hình như thế đấy. Nhưng mọi việc đâu vào đó, xong hết.

Qua nghe anh Tư Thân kể về việc chuẩn bị lực lượng, về ém quân, cài thế, tôi càng hiểu thấu cái điều kiện cơ bản cho trận đánh sập cầu Bến Lức mà lực lượng đặc công đã hoàn thành không thể tách khỏi cái lực, cái thế mà Long An đã chuẩn bị. Anh Tư Thân còn cho biết thêm: Sau trận đặc công đánh sập cầu sắt, bọn chuyên viên của công binh Mỹ kéo đến nghiên cứu tính chuyện sửa, nhưng khi đưa vào máy tính điện tử để tìm đáp số thấy đắt dữ, làm như thế chỉ phức tạp, nên chúng quyết định xây cầu xi măng mới, muốn chứng tỏ rằng Mỹ lắm của.

Trận cầu Bến Lúc là một kỷ niệm sâu sắc của tôi, nó không phải đơn thuần đây là trận đánh Mỹ đầu tiên mà tôi được tham dự, mà còn là qua trận then chốt này, tôi đã lớn lên rất nhiều trong nghệ thuật tổ chức, chỉ huy chiến sĩ; là những vấn đế chiến thuật và kỹ thuật của đánh trái nổ có trọng lượng lớn, trong điều kiện sông nước. Những kinh nghiệm của trận đánh này đã có ý nghĩa góp phần xây dựng các nguyên tắc về tổ chức tác chiến đặc công - hình thức đánh cầu, làm cho nghệ thuật tác chiến của binh chủng thêm phong phú.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn