Bến Lức 1968: "Cú đấm thép" của đặc công nước trên Quốc lộ 4
Đoạn trích tường thuật chi tiết quá trình chuẩn bị và thực thi trận đánh sập cầu Bến Lức – "yết hầu" chiến lược trên Quốc lộ 4 nối Sài Gòn với miền Tây – vào đợt 2 cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968. Dưới sự chỉ huy trực tiếp của tác giả (Tư Cường), lực lượng đặc công nước Phân khu 3 đã vượt qua hệ thống phòng ngự "nội bất xuất, ngoại bất nhập" của Mỹ - Ngụy, từ mạng lưới điện cao áp đến tàu tuần tiễu và người nhái dày đặc. Điểm nhấn của trận đánh là bản lĩnh kiên trì của tổ chiến đấu khi trải q
Tháng 5 đã đến.
Tháng mở đầu đợt hai của cuộc tiến công và nổi dậy. Cũng như các Phân khu 1, 2, 4, 5 là xốc lại đội hình, tiếp tục tổ chức tiến công về hướng nội đô Sài Gòn, Phân khu 3 còn có thêm nhiệm vụ: đánh sập cầu Bến Lức,
Cầu Bến Lức dài 720 mét vắt qua sông Vàm cỏ Đông, cách Sài Gòn khoảng 32 cây số về phía tây - nam. Đây là một trong sô những cây cầu lớn nhất trên chiến trường miền Nam, đứng sau cầu xa lộ Biên Hòa, nhưng là cầu lớn nhất trên đường số 4 - một quốc lộ duy nhất nối thông Sài Gòn với vùng lúa gạo tây Nam Bộ xuống tận miệt Cà Mau - Năm Căn.
Chính vì cây cầu có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng như thế nên địch rất chú ý đến việc phòng thủ bảo vệ nó như một cứ điểm chủ yếu trong chiến lược phòng thủ diện địa của quân ngụy Sài Gòn. Ở đây thường xuyên có một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 50, sư đoàn 25 ngụy làm nhiệm vụ canh gác suốt ngày đêm. Trên mặt cầu về ban đêm thường có một trung đội đi tuần tiễu, lùng sục, phát hiện và có xe bọc thép chạy qua lại yểm trợ, có pháo 37 ly bắn dọc hai bên bờ sông để tăng cường sự kiểm soát của chúng vào ban đêm; đồng thời Mỹ còn đặt trận địa pháo 175 ly để với tầm kiểm soát thật xa. Phía dưới mỗi chân cầu, đều có một tiểu đội thường trực canh gác, đặc biệt về đêm mỗi chân cầu địch còn neo từ 1 - 3 tàu, xuồng (không thành quy luật) chạy tuần tra xung quanh. Riêng chân cầu bê tông thứ hai từ phía nam cầu được chúng đặc biệt chú ý. Đây là chân cầu bằng sắt đã bị ta đánh trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nằm ngay giữa dòng nước xoáy rất thuận tiện cho ta tiếp cận. Địch rào kẽm gai xung quanh, cách xa chân cầu khoảng từ 3-5 mét. Một hệ thống trên 500 ngọn đèn điện bóng tròn và ống kết dày đặc làm sáng rực một khúc sông mỗi khi đêm về, kết hợp với dùng người nhái để kiểm tra các chân cầu và đề phòng ta tiếp cận. Có khoảng 10-14 tàu thường trực cùng với hàng chục ghe, xuồng máy chạy qua chạy lại suốt ngày đêm làm nhiệm vụ lùng sục, bảo vệ cầu. Hai bên sông cách cầu từ 500-700 mét, địch bố trí một loạt tháp canh (lực lượng mỗi tháp canh cỡ khoảng một tiểu đội) làm nhiệm vụ canh gác, tuần phục. Ban đêm chúng bắn xôi xả (kể cả lựu đạn và súng phóng lựu M.79) dọc theo hai bờ sông và dưới chân cầu. Những đêm tối trời địch dùng máy bay trực thăng thả pháo soi hai bên cầu. Ngoài hệ thống phòng thủ cẩn mật tại chỗ, địch còn cài cắm bọn bình định ác ôn, mật vụ, thám báo nằm rải rác trong các ấp chiến lược hai bên bờ sông để dò la, phát hiện ta từ xa.
Để bảo vệ chắc chắn, địch còn thường xuyên tổ chức các cuộc hành quân càn quét với lực lượng từ một đại đội đến một tiểu đoàn bằng tàu xuồng, hoặc bằng trực thăng dọc theo ven sông thuộc các huyện Bến Thủ, Tân Trụ, Cần Đước; đặc biệt từ 26 tháng 6 (là thời điểm cuối cùng ta chuẩn bị đánh cầu Bến Lức) địch mở nhiều cuộc phản kích lớn vào hậu cứ ta ở ven đường số 4, ven sông Vàm cỏ Đông, tăng thêm cho Bến Lức một tiểu đoàn pháo cỡ lớn và nhiều xe tăng, xe bọc thép đề phòng ta tiến công, giữ cho được đầu cầu này để tiến hành đánh phá tây - nam Sài Gòn.
Đánh sập cầu Bến Lức không chỉ là yêu cầu của bản thân Phân khu 3, mà còn góp phần hỗ trợ các phân khu bạn triển khai tiến hành đợt hai của cuộc tiến công và nổi dậy.
Không thấy có gì phải hỏi thêm vì mục tiêu thật gọn - chỉ một cây cầu nằm độc lập; vì nhiệm vụ cũng thật rõ - đánh sập cầu. Điều khiến tôi phải suy nghĩ sau khi được anh Tư Thân giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy trận đánh, là làm thế nào hoàn thành được nhiệm vụ. Vì cây cầu này hồi tháng 3, ta đã tổ chức đánh nhưng không thành công chỉ hỏng nặng, một tuần lễ sau đó địch đã chữa ngay, việc lưu thông trở lại bình thường. Như vậy chắc chắn là sau trận này chúng sẽ tăng cường bố phòng, canh gác cẩn mật hơn.
Một điều nữa không thể bỏ qua, sau đòn choáng váng của cuộc tiến công và nổi dậy của ta trong đợt một, địch rút kinh nghiệm, chấn chỉnh lại lực lượng để, một mặt tăng cường phòng thủ nội đô, mặt khác tổ chức các cuộc phản kích ở vùng ven đô với lực lượng hỗn hợp Mỹ - ngụy Sài Gòn. Nguyễn Văn Thiệu đã tung bốn tiểu đoàn thuộc lực lượng dự bị chiến lược làm nhiệm vụ phòng thủ vòng trong ra cùng với lữ đoàn 199 độc lập và lữ đoàn 3 sư đoàn 25 Mỹ tiến hành phản kích ác liệt ở phía nam Sài Gòn thuộc địa bàn Phân khu 3. Chúng còn sử dụng cả máy bay B.52 thả bom rải thảm xuống vùng hạ Cần Giuộc và các vùng cặp hai bên sông Vàm cỏ Đông (Đức Huệ, Bến Lức). Tình hình căng thẳng này ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình chuẩn bị trận đánh. Nếu không suy tính cẩn thận, kế hoạch không tỉ mỉ sát sao thi chúng tôi rất có thể sẽ bị thương vong trước khi triển khai lực lượng chiến đấu.
Đêm đầu tiên sau khi nhận sự phân công của Bộ tư lệnh Phân khu 3, tôi cứ đắm mình trong những suy nghĩ miên man. Nghĩ về ý kiến của các anh trong Bộ tư lệnh Binh chủng trao cho trước lúc lên đường - vào trong đó cố tạo điều kiện được trực tiếp tham gia chiến đấu, nhất là được dự các trận đánh then chốt, qua đó mà tổng kết rút kinh nghiệm gửi ra Binh chủng; nghĩ về lòng tin của tổ chức, của các anh Tư Thân, Chín Cần và các anh trong Bộ tư lệnh Phân khu đã gửi gắm: Đánh lần này cần phải sập cầu, làm như thế nào thì do anh Tư quyết định - rồi các anh siết chặt tay tôi nhấn mạnh - phải chuẩn bị chắc ăn, nghe. Cả Phân khu dõi tin trận đánh đó!
Thái độ thân tình, tôn trọng trong khi các anh giao nhiệm vụ đã khích lệ tôi. Khí thế lạc quan của cán bộ chiến sĩ chấp nhận đi vào đợt hai của cuộc chiến đấu đã thực sự giục giã tôi. Và chính trong tôi lúc này cũng ý thức đầy đủ về nhiệm vụ được giao có quan hệ phối hợp với mặt trận hướng bắc của phân khu đang sắp bước vào thời kỳ sôi động.
Chứng tôi nêu vần đề trao đổi trong cán bộ, tập trung vào ba việc chính:
- Phải tổ chức điều nghiên như thế nào vừa bảo đảm bí mật, an toàn lại đạt hiệu quả cao.
- Phải cần bao nhiêu lượng nổ, cách đóng gói như thế nào để bảo đảm kỹ thuật, đưa được trái vào mục tiêu.
- Phương án thực hành đánh sập cầu theo kiểu nào là chắc ăn, không mắc phải khuyết điểm như lần đánh trước đó.
Cả ba vấn đề thuộc nội dung quyết tâm của trận đánh có quan hệ mật thiết với nhau, không thể nặng nhẹ mặt nào, nhưng việc đầu tiên là phải tổ chức điều nghiên nắm địch thật vững đã.
Huyện ủy Tân Trụ và chi ủy Bình Nhựt (xã có cầu Bến Lức) đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong việc tìm nơi ăn, ở và nắm hiểu tình hình địch. Đặc biệt là ban binh vận huyện thông qua cơ sở nội tuyến cài cắm trong quân đội ngụy đã cung cấp cho chúng tôi khá tỉ mỉ và chính xác về hệ thống phòng thủ vòng trong của địch, đặc biệt là quanh khu vực cầu Bến Lức. Đó là những căn cứ không thể thiếu để chúng tôi triển khai công việc chuẩn bị cho trận đánh. Nhưng nó vẫn không thể thay thế việc mình phải trực tiếp nhìn thấy, sờ thấy mục tiêu, nơi mình có nhiệm vụ đến. Một việc làm mà sau này các đồng chí ở bộ phận nghiên cứu tổng kết đã đặt cho nó một thuật ngữ - phương pháp điều nghiên trực quan. Không có điều nghiên trực quan thì không có chiến đấu. Quan hệ gắn bó này được rút ra từ thực tiễn để trở thành một trong những nguyên tắc Cơ bản của phương thức tác chiến đặc công. Ngày 15 tháng 5 năm 1968, giai đoạn điều nghiên bắt đầu được triển khai. Với đặc công, điều nghiên là chiến đấu, trực tiếp tiếp xúc với địch, vì vậy công tác chuẩn bị phải thật chu đáo cả về tư tưởng và tổ chức. Khoảng 20 giờ cùng ngày, từ một địa điểm cách cầu hơn một cây số về phía hạ lưu, tổ ba người đã sẵn sàng nhận lệnh. Họ ở trần mặc quần áo lót chẽn thân mang dáng dấp người nhái. Không có trang bị gì phức tạp ngoài dây bảo hiểm và vòng cổ mỗi người có đeo một “máy” thở thô sơ.
Đêm hạ tuần, trăng và sao đều bị khuất bởi những đám mây dày đặc phủ kín một góc trời tự bao giờ. Nhưng ánh sáng các loại đèn phòng thủ từ cầu Bến Lức hắt đến vẫn nhìn rõ gương mặt từng người sắp sửa ra đi. Giờ xuất phát không yên tĩnh. Một quả đạn cối 82 ly từ đâu bay tới gần vị trí xuất quân và tiêng súng từ Bến Lức bỗng rộ lên. Rồi đạn pháo cực nhanh bay vèo vèo qua đầu, tiếp theo là những tiếng nổ dậy đất từ phía Đức Hòa, Ba Thu dội về. Không một ai tỏ vẻ hốt hoảng. Tôi rất yên tâm và rất tin về những người đồng đội của mình, mặc dù số anh em cùng tôi làm nhiệm vụ trong trận đánh chưa quen nhau. Các cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị phần lớn đều từ hải quân chuyển sang, được huấn luyện kỹ thuật đặc công nước và bổ sung vào chiến trường cuối năm 1966. Tất cả đều trẻ, hăng hái, nhiệt tình, đã qua các trận đánh cầu Dầu Tiếng, cầu Bình Điền, cầu Cần Giuộc, cầu ông Thìn, v.v...
Đêm thứ nhất của đợt điều nghiên là nắm tình hình khu vực cầu. Tổ đã phát hiện địch có thay đổi một số về bố phòng dưới sông so với lần đánh cầu đợt trước. Chúng tăng thêm xuồng máy tuần tra, đặt thêm một bót gác cách cầu 800 mét; cỏ lác bên bờ sông phía nam (đường dự kiến tiếp cận) bị phá sạch, hàng rào kẽm gai được củng cố lại và làm rộng ra năm mét. Đèn đặt ở trụ cầu bê tông và mố cầu được tăng thêm, tàu chạy xa cầu hơn và không thành quy luật.
Nhiệm vụ điều nghiên của đêm thứ hai là tiếp tục nghiên cứu đường chuyển trái vào, quy luật tàu xuồng máy chạy, quy luật canh gác dưới chân cầu. Nhưng khi đến chân cầu bê tông thì gặp một xuồng máy địch chạy ngang qua, đuôi tàu vướng vào dây bảo hiểm, bọn địch trên xuồng liền phản ứng bắn súng báo động cho toàn căn cứ. Thấy tình hình không bảo đảm an toàn, tổ điều nghiên nhanh chóng rút khỏi vòng nguy hiểm, trở về căn cứ. Trong khi đó địch hết sức hoang mang, chúng bắn bừa bãi các loại đạn xuống nước, đèn pha chiếu khắp nơi, tàu và xuồng máy chạy tuần tiễu quanh các chân cầu suốt đêm. Hướng tiếp cận bị lộ, từ đó về sau địch rất chú ý phía nam cầu (thuộc huyện Tân Trụ), càng ra sức tuần phòng nghiêm ngặt hơn. Như vậy là công tác điều nghiên chưa hoàn thành. Hướng tiếp cận từ ngoài biển vào không sử dụng được. Tình hình trở nên khó khăn.
Tạm đình hoãn việc điều nghiên một vài ngày cho tình hình trở lại bình thường. Đêm 29 tháng 5, công việc nắm địch lại được tiếp tục. Lần này chúng tôi quyết định toàn đơn vị vượt lộ 4 rời Tân Trụ sang Bến Thủ để đổi hướng tiềm nhập. Đêm thứ ba, do kịp thời chuyển hướng nên việc điều nghiên đạt kết quả tốt. Nói chung hệ thống phòng thủ ở hướng Bến Thủ giống như Tân Trụ, chỉ khác là địch tại đây có phần chủ quan hơn.
Cùng với việc điều nghiên, câu hỏi đặt ra từ đầu là lượng nổ cần cho việc hoàn thành nhiệm vụ. Đây là vấn đề phức tạp, có quan hệ đến thành bại của trận đánh mang ý nghĩa then chốt; không thể trả lời một cách giản đơn, võ đoán được, mà cần phải có sự tính toán khoa học phù hợp với thực tiễn. Một cuộc họp trao đổi để tìm “thông số” kỹ thuật đã được tổ chức gấp tại một địa điểm ngay bờ nam sông Vàm cỏ Đông (thuộc địa phận huyện Bến Thủ) cách Bến Lức chừng khoảng ba cây sô. Không khí cuộc “hội thảo” diễn ra rất sôi nổi và đầy hào hứng, bởi ai cũng ý thức được tính nghiêm túc của vấn đề.
Thật xúc động biết bao khi có dịp ngắm nhìn gương mặt các chiến sĩ sắp đi vào trận đánh. Tuổi đời mới trên dưới hai mươi mà ai nấy đều già dặn với đường nét, dáng vẻ của những người đã có chiều dày từng trải, chín chắn trong suy nghĩ, thận trọng trong hành động. Nước da mỗi người vẫn còn đậm màu xanh sạm của nắng gió Trường Sơn, của những năm tháng sống cùng muỗi, vắt rừng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Nhưng trong .khóe mắt của hơn hai mươi người con quê ở miền Bắc hiện đang đứng trong thế trận tây - nam Sài Gòn vẫn ngời trong, luôn hướng về cái đích sáng lạn để đi tới.
Tôi chăm chú lắng nghe và chắt chiu từng khía cạnh nhỏ những ý kiến của mỗi người vì đây là những kinh nghiệm thực tiễn chiến đấu trong đó có mồ hôi và máu của đồng đội để lại, chứ hoàn toàn không chút cảm tính, sách vở nữa. Quyết tâm chiến đấu là cả một quá trình chuẩn bị, cân nhắc của người chỉ huy nhưng chỉ khi nào quyết tâm đó được mọi người đóng góp, trên dưới đồng lòng, mới trở thành yếu tố sức mạnh để chiến thắng kẻ thù. Sau khi biểu dương những ý kiến đóng góp của anh em, tôi nói tiếp: Bến Lức được xem như một kiểu loại căn cứ liên hợp quân sự thu nhỏ của Mỹ - ngụy ở miền Nam. Ở đây địch tập trung nhiều sắc lính, nhiều vũ khí và phương tiện chiến tranh, được kết đan thành một hệ thống phòng thủ cẩn mật nhiều tầng nhiều lớp, để không những bảo vệ cây cầu mà còn làm nhiệm vụ một căn cứ khởi xuất các cuộc hành quân đánh phá cơ sở của ta, kìm kẹp nhân dân quanh vùng. Vì vậy theo tôi, công thức tính lượng nổ cho trận đánh này phải thỏa mãn cả hai yêu cầu: Đánh sập cầu Bến Lức, đồng thời diệt sinh lực địch và phương tiện chiến tranh ở quanh khu vực cầu, góp phần phá bung một điểm tựa chủ yếu trong hệ thống phòng thủ vành ngoài của địch ở tây - nam Sài Gòn. Như thế là ta làm theo kiểu một công đôi ba việc...
- Vậy lượng nổ bao nhiêu ký (ki-lô-gam) thì đủ, anh Tư? - Một đồng chí cán sự huyện Bến Thủ cùng dự họp, sốt ruột hỏi.
- Một ngàn ký. - Tôi trả lời.
Hầu hết những người dự họp đều tròn xoe mắt nhìn tôi. Thông cảm được sự ngạc nhiên của mọi người, tôi nói tiếp: Phải dùng một lượng nổ như vậy. Tiết kiệm để đánh lâu dài là đúng nhưng khi cần cũng phải dám đánh lớn. Ở chiên dịch Điện Biên Phủ ta đã dùng trái nổ ngàn ký để đánh cứ điểm đồi Al. Chỉ khác là hồi đó ta đào hầm để đưa trái nổ cỡ bự đó vô đánh sập căn cứ địch; còn bây giờ ta dùng trái nổ đi theo đường sông, đưa vô đúng cái trụ cầu mà ta định đánh trong điều kiện địch bố phòng cẩn mật...
Khi chúng tôi đã tìm ra công thức về lượng nổ thì thuốc nổ TNT dự trữ của Phân khu 3 đã cạn vì đã huy động phục vụ cho đợt một và đợt hai của cuộc tiến công và nổi dậy.
| Vì ý nghĩa quan trọng của trận đánh nằm trong khuôn khổ của đợt hai của cuộc tiến công và nổi dậy trên toàn khu vực Sài Gòn, nên Bộ tư lệnh Phân khu 3 không thay đổi quyết tâm. Anh Tư Thân, anh Chín cần từ sở chỉ huy cơ bản gửi thư động viên tôi ráng chờ, sẽ có đủ lượng thuốc mà anh Tư cần. Hãy động viên anh em giữ vững quyết tâm. Thế là một “chiến dịch” vận chuyển thuốc nổ được triển khai sau đó. Một đội quân gồm mấy chục con người nai nịt gọn gàng âm thầm luồn qua đồn bót địch, băng qua Đồng Tháp Mười lên tận vùng giáp biên Ba Thu (Đức Huệ) để vận chuyển thuốc nổ về. Ngày các anh trong đội quân vận chuyển nhận lệnh lên đường cũng là ngày chúng tôi thấp thỏm mong chờ, nôn nao tính đến từng giờ. Và khi được thông báo ngày các anh về thì ai nấy đều hồi hộp không sao ngủ được, cứ thức hoài mong ngóng. Phút đầu tiên gặp nhau thật xúc động không nói nên lời. Cả người tiếp nhận và người vận chuyển đều nhìn nhau trong im lặng - cái im lặng chất chứa những lo toan, những thương cảm về nhau. Trong ánh sáng đèn pha từ cầu Bển Lức hắt tới, tôi nhìn rõ đồng chí đội trưởng đội vận chuyển dáng người thấp đậm, hai má tóp gày. - Thuốc nhồi trái đủ rồi đó, anh Tư. - Vừa nói anh vừa nâng hai tay đưa tôi gói thuốc nổ nặng cỡ mười ký, được gói bằng ni lông rất cản thận đề phòng thấm nước. Đón nhận gói thuốc nổ vuông vắn từ tay anh, tôi không sao cầm được nước mắt! Bởi chuyển đưa được về đây chỉ một ký thôi đâu có đơn giản? Con đường mà các anh đi qua là con đường máu, đã có biết bao nhiều đồng đội của chúng ta ngã xuống trên đường tiến xuống chi viện cho chiến trường đồng bằng sông Cửu Long. Con đường ấy giờ đây, sau đợt một của cuộc tiến công và nổi dậy, Mỹ ngụy đã gia tăng đánh phá với mức ác liệt hơn bất cứ thời kỳ nào trước đó. Dọc vùng giáp biên (Đức Huệ - Kiến Tường) nơi các anh đến nhận thuốc nhồi trái TNT đang bị máy bay Mỹ quần đảo, trút bừa bãi hàng tấn bom nổ chậm, bom từ trường; đêm đến pháo bầy thi nhau giội theo tọa độ trực thăng thay phiên nhau rõi đèn, đánh phá hành lang, nhằm chia cắt thế trận liên hoàn giữa các phân khu của ta bao quanh Sài Gòn, ngăn chặn lực lượng từ R xuống chi viện cho mặt trận tây - nam Sài Gòn. Không nâng niu, không trân trọng sao được khi được biết những ký thuốc nổ này đã nhuộm máu đồng đội mình, với ý thức thật đẹp - bảo đảm thuốc đến tận tay chúng tôi, góp phần vào thắng lợi trong trận đánh tới. - Xin thành thật cám ơn những anh em còn sống và kính cẩn nghiêng mình trước hương hồn những người ngã xuống để cho chúng tôi có sức mạnh bước vào trận chiến đấu mới. Tôi đã nói tự đáy lòng những suy nghĩ cảm xúc của mình khi đón nhận gói thuốc nổ từ tay đồng chí đội trưởng vận chuyển. Đồng chí đội trưởng trở nên lúng túng, giọng run run cảm động: - Trách nhiệm chung mà, anh Tư! Cùng lúc mọi công tác chuẩn bị cho bao gói, kết trái đã được song song tiến hành như vải, nilông che mưa, dây thừng, dây gân, ruột xe hơi; quan hệ với địa phương để mượn ghe, xuồng, xin tre, búp dừa để chằng buộc, làm phao và ngụy trang... Khi nhận hết lượng nổ, chúng tôi có đủ điều kiện bước vào triển khai đóng gói. Mỗi công việc chuẩn bị cho trận đánh giữa vòng vây của quân thù đều có những nội dung phong phú với tất cả tính phức tạp của nó. Việc vận chuyển lượng nổ về tới đây được xem như một cuộc chiến đấu đòi hỏi phải trả giá bằng máu xương, thì việc biến khối thuốc nổ đó thành một trái nổ cũng không thể làm theo con số cộng đơn thuần, muốn đóng gói theo hình thù nào cũng được. Một trọng lượng lớn như thế, khi thả xuống, yêu cầu chỉ là là chìm cách mặt nước khoảng hai mươi phân. Nổi không được, như thế sẽ lộ. Nhưng nếu tính toán không kỹ, kết cấu không đúng kỹ thuật thì cả khối thuốc thả xuống Sẽ tức khắc chìm xuống đáy sông, dẫn đến một thất bại kép: không phá sập được cầu và mất toi cả ngàn ký thuốc! Do tính toán chuẩn bị trước, nên khi thuốc về là bộ phận đóng gói kết thành nhiều trái nhỏ, rồi kết lại với nhau thành một trái lớn, được bao bọc bởi ba lóp vải, một lớp nilông. Hai trăm kíp nổ thường, được gói xen vào các lớp thuốc TNT để làm kíp phụ. Riêng trái nổ mồi nặng 20 ký có gắn sáu kíp hóa học loại hẹn giờ. Trong khi tính toán thiết kế trái, chúng tôi có chú ý tận dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ, vừa đỡ phức tạp vừa ngụy trang họp với địa hình. Chẳng hạn, dùng nẹp tre để kết trái lớn, buộc bằng dây gân; dùng vải nilông để kết trái nhỏ và buộc bằng dây thừng; dùng búp dừa nước kết thành hình chữ nhật buộc hai bên trái làm phao nâng, có tác dụng ngụy trang khi trái theo dòng chảy vào trụ cầu; hai đầu trái thì dùng phao nâng bằng hai ruột xe ô tô loại lớn; phía trên mặt cũng dùng một khối búp dừa nước kết thành hình mái nhà để thu nhỏ mục tiêu khi đưa trái xuống nước.
| |


