Bến Ngự, từ bao giờ?
Bến Ngự là địa danh gắn với đời sống lịch sử văn hoá Huế, rất thân quen và phổ biến đối với những ai yêu Huế, quan tâm đến vùng văn hoá Huế; bài viết ngắn này mong được góp phần tìm hiểu địa danh Bến Ngự trong tiến trình phát triển của đô thị Huế.
Xuất phát từ sự kiện văn hoá lễ tế Nam Giao của các vua triều Nguyễn đầu thế kỷ XIX “Gia Long năm thứ nhất (1802), tháng 5 đặt đàn ở địa phận xã An Ninh, hợp tự cả trời đất... Năm thứ 5 (1806) sửa dựng 3 thành trong khu vực đàn Nam Giao ở địa phận xã An Cựu bên bờ nam sông Hương, lấy ngày tốt trong tháng xuân, nhà vua thân ngự làm lễ” (1).
Đến dịp tế Giao năm Bính Thân, vua Minh Mạng đã cho làm bến để thuyền ngự lên bờ. Sự kiện này đã dược sách Đại Nam thực lục chép lại rằng: “Ngày Đinh Mão tháng 2, năm Bính Thân, Minh Mạng 17 (1836); tế trời đất ở đàn Nam Giao. Hằng năm, ngự giá qua sông Hương, qua bờ sông Lợi Nông đều phải qua cầu phao. Vua nghĩ, làm cầu, phiền và vất vả, chi bằng đi thuyền cho tiện, bèn chuẩn cho bắt đầu từ năm nay, đến kỳ tế Giao, trước một ngày, vua ngự thuyền lâu Vĩnh Ninh, theo đường sông đến bến đò Dương Xuân, lên bờ, đến Trai cung. Trước đó, sai thống chế Hồ Văn Khuê đem quân khơi vét cửa sông Lợi Nông, lại xây bậc thềm ở bờ phía nam bến Dương Xuân để tiện lên bờ. Đến ngày tế ngự giá đến Trai cung”(2).
Như vậy, nguyên trước tại địa điểm này đã có một bến đò, thuộc địa phận làng Dương Xuân. Qua khảo sát thực địa, hiện nay còn lưu giữ một tấm bia đá bên bờ sông, cạnh chợ, cách cầu Bến Ngự khoảng 60m.
- Ở giữa ghi 3 dòng chữ: Bổn xứ hiển linh liệt vị tôn thần; Ngũ phương ngũ hành liệt vị chi thần; Bổn thổ thành hoàng khai thác khai canh liệt vị tôn thần.
- Lạc khoản bên trái ghi: Át Hợi niên cát nhạt phụng ( thờ phụng từ ngày tốt năm Ất Hợi), Theo chúng tôi là năm 1935.
- Lạc khoản bên phải ghi: Dương Xuân Hạ xã, Tây Hương ấp, đồng bổn phụng (do dân ấp Tây Hương làng Dương Xuân Hạ thờ phụng).
Chứng tỏ vùng đất này vốn là đất cũ làng Dương Xuân xưa.
Tuy nhiên, bờ nam Bến Ngự lại là đất cũ làng Phú Xuân, điều này đã được Lê Nguyễn Lưu công bố trong một văn bản Hán Nôm : “Tờ văn khế ngày 3 tháng 10 năm Cảnh Thịnh 3 (13-11-1795)... (Tôi là mệ Hưng, Nguyễn Thị Hưng, ở ấp Trường Giang, xã Phú Xuân, bị ốm mà không có tiền uống thuốc. Nguyên ông nội tôi có để lại một khoảnh vườn đất trong vùng rừng thuộc bổn ấp, gần đất công, đông giáp đường cái, tây giáp vườn chủ mua, nam giáp đàn sau vườn, bắc giáp vườn đất công)(3).
Qua đó có thể xác định rằng Bến Ngự ở sông An Cựu nguyên trước có tên bến Dương Xuân; bờ bắc thuộc đất làng Dương Xuân, bờ nam thuộc đất làng Phú Xuân xưa, đã được xác lập từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836).
Gần đây, trong lúc thi công dự án xây kè hai bên bờ sông An Cựu, bộ phận thi công đã phát hiện một bến đá cổ ở bờ bắc, cách mối cầu Bến Ngự khoảng 60m, bên cạnh một gốc sung cổ thụ; phải chăng đây là Bến Ngự ngày xưa, nơi “Ông già Bến Ngự” Phan Bội Châu thường neo thuyền trong những tháng ngày bị thực dân Pháp quản thúc ở Huế từ cuối năm 1929 theo hồi ức của Đào Duy Anh: “... Để thoát khỏi cảnh cô liêu tù túng trong ngôi nhà Bến Ngự đó. Cụ đã mua một chiếc đò và thuê người chèo để có thể sống trôi nổi trên sông Hương để tìm cảnh nước rộng trời cao... Cụ đã quen sống trên mặt nước cho nên mỗi khi có khách xa muốn thăm thì phải hẹn trước để người nhà đem xuống đò đúng khi Cụ cho ghé đò vào bến (ở gốc sung bên bờ tả sông Bến Ngự)(2).
Từ khi lập bến cho thuyền ngự của nhà vua đi tế Giao mùa xuân, khu vực này dần định danh Bến Ngự gồm chợ, cầu, dốc và mở rộng ra là vùng đất Bến Ngự. Tại đây, vào đầu tháng tư năm 1930, trong một ngôi nhà cơ sở bên cạnh đường rầy xe lửa, dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Phong Sắc, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Xứ uỷ Trung Kỳ đã tiến hành hội nghị hợp nhất hai tổ chức Cộng sản ở địa phương là Đông Dương Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn thành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ở Huế.
Trong phong trào đấu tranh đô thị chống đế quốc Mỹ và tay sai những năm 1963, 1965, 1966... nhân dân vùng Bến Ngự đã sôi sục xuống đường cùng với các tầng lớp nhân dân thành phố Huế thực hiện lời dạy của Bác Hồ muôn vàn kính yêu là “Đánh cho Mỷ cút, đánh cho Nguỵ nhào”.
Tiếc rằng vẫn chưa tìm thấy vết tích Bến Ngự ở bờ phía nam; để kết thúc bài viết ngắn này, xin mượn tâm sự của cố nhạc sỹ Dương Thiệu Tước trong bản nhạc Đêm tàn Bến Ngự của ông: “Ai về Bến Ngự cho ta nhắn cùng, nhớ chăng non nước Hương Bình, có những ngày xanh, lưu luyến bao tình...”.


