Bến phà Long Đại một thời hoa lửa
Bà Phạm Thị Tuyết, sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, tại thôn Long Châu, xã Phù Hóa, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình (nay là thôn Long Trường, xã Tân Gianh, tỉnh Quảng Trị).
1. Bà Phạm Thị Tuyết, sinh ra và lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, tại thôn Long Châu, xã Phù Hóa, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình (nay là thôn Long Trường, xã Tân Gianh, tỉnh Quảng Trị).
Sau khi học xong cấp 3, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc bà đã lên đường tham gia vào lực lượng thanh niên xung phong và được phân về Đại đội C130, Tiểu đoàn 2, Sư đoàn 571, Đoàn 559, Binh đoàn 12 Trường Sơn làm nhiệm vụ mở đường thuộc hệ thống đường Trường Sơn. Địa điểm đóng quân là “toạ độ lửa” nơi Bến phà II Long Đại (xã Hiền Ninh, tỉnh Quảng Bình cũ).
Là một chiến sĩ trực tiếp tham gia phục vụ và chiến đấu để bảo vệ con tuyến đường huyết mạch từ Bắc vào Nam góp phần cùng quân dân cả nước làm nên đại thắng lợi mùa xuân năm 1975, đất nước thống nhất non sông thu về một mối, trong thắng lợi vẽ vang chung đó có sự đóng góp không nhỏ của lực lượng thanh niên xung phong.
2. Qua trò chuyện với bà chúng tôi được biết để giữ được bến phà II Long Đại bà cùng đồng đội đã không tiếc máu xương của mình và đã có rất nhiều đồng đội đã nằm lại mãi mãi ở mảnh đất này. Với bà may mắn hơn là được trở về nhưng với một vết thương khá nặng trong một trận rải thảm bằng máy bay của địch nhằm xóa sổ bến phà Long Đại vào mùa thu năm 1972. Bồi hồi bà nhớ lại đó là vào một đêm mưa giữa tháng 9 năm 1972, còi báo động chưa dứt màn đêm đã bị xé toạc bởi ánh pháo sáng cùng tiếng gầm rú của các “pháo đài bay” mặt đất, bến sông rung chuyển liên hồi bởi bom đạn cả không gian chìm trong khói lửa. Đơn vị của bà được lệnh giữ vững một chiếc phà đang được neo đậu về phía thượng nguồn nơi được xem là “yết hầu” của bến phà II nơi được mệnh danh là “túi bom”, là “chảo lửa”, nhưng các đồng đội của bà vẫn không hề nao núng, luôn giữ ý chí và quyết tâm “đánh địch mà đi, mở đường mà tiến”. Địch đánh phá ác liệt, nhưng đơn vị của bà vẫn bám trụ trận địa. Địch đánh xong là cứu người, cứu hàng hoá, khí tài, người này ngã, người khác thay thế, tiếp tục làm nhiệm vụ thông tuyến, bảo đảm mạch máu giao thông. Dưới sự tàn phá khốc liệt của bom đạn quân thù, ranh giới giữa sự sống và cái chết trở nên mong manh hơn bao giờ hết.
Sau trận rải thảm đó tuy giữ được phà và thông tuyến liên tục, nhưng đã có không ít chiến sỹ của ta đã ngã xuống. Sau khi máy bay giặc ngừng ném bom, khu vực nơi đơn vị đóng quân chỉ còn bãi đất trống với ngổn ngang hố bom. Các chiến sĩ may mắn thoát chết đã định thần lại và đi tìm đồng đội hy sinh, xót xa thay khi đào bới trong từng hố đất, tìm kiếm trên dòng sông Long Đại, trái tim đồng đội quặn thắt khi đồng đội hy sinh hầu hết đều không còn nguyên vẹn thi thể. Ngày 19/9/1972 là một ngày không thể nào quên trong cuộc đời của bà. Sau khi máy bay giặc ngừng ném bom, các chiến sĩ may mắn thoát chết đã định thần lại và đi tìm đồng đội hy sinh, xót xa thay khi đào bới trong từng hố đất, tìm kiếm trên dòng sông Long Đại, trái tim đồng đội quặn thắt khi đồng đội hy sinh hầu hết đều không còn nguyên vẹn thi thể.
Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhưng ký ức về trận đánh ấy vẫn vẹn nguyên trong tôi. Bến phà II Long Đại không chỉ là một di tích lịch sử, mà còn là biểu tượng của ý chí kiên cường, của lòng yêu nước và sự hy sinh cao cả.
Mỗi lần nhớ lại, tôi lại tự nhủ phải sống sao cho xứng đáng với những người đã nằm lại.


