Bến Tre – "Quê Hương Đồng Khởi"
sự kiện lịch sử
Bến Tre – "Quê Hương Đồng Khởi"
“Cao trào cách mạng ấy thực chất là một phong trào khởi nghĩa của quần chúng, một cuộc khởi nghĩa từng phần, từng bước của phong trào cách mạng của nhân dân để giành lấy lực lượng chính trị, xây dựng một hình thức chính quyền cách mạng của nhân dân trong thôn xã, xây dựng một tổ chức đầu tiên của quân đội nhân dân trong xã, trong huyện, trong tỉnh”.
Đó là lời đánh giá của đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn, người trực tiếp chỉ đạo cách mạng ở miền Nam qua các thời kỳ (1).
Đại tướng Hoàng Văn Thái, nguyên tư lệnh mặt trận B2 trong kháng chiến chống Mỹ, đã khẳng định vị trí của Bến Tre, là cờ đầu của cao trào cách mạng miền Nam trong những năm đầu của thập kỷ 60 như sau: “Phong trào Đồng khởi ở Bến Tre đã mở đầu cho cuộc tấn công và nổi dậy lần thứ nhất của cách mạng miền Nam, mở đầu cho cuộc khủng hoảng triền miên của chính quyền Mỹ - Diệm. Rõ ràng, phong trào đồng khởi ở Bến Tre đã đi vào lịch sử như một ngọn cờ đầu, nó đã có một vị trí xứng đáng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam và xứng đáng được gọi là QUÊ HƯƠNG ĐỒNG KHỞI với tất cả nội dung và tính chất của nó” (2).
Dưới đây là những cột mốc và nét chính của quá trình diễn biến của cuộc Đồng khởi:
Tháng 5-1959, Hội nghị lần thứ 15 của Ban chấp hành Trung ương Đảng đã phân tích những đặc điểm tình hình và xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là: “Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” (1). Nghị quyết khẳng định “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là dùng bạo lực. Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì đường lối dùng bạo lực là lấy sức mạnh của quần chúng dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang, hoặc nhiều hoặc ít tùy tình hình, để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân” (2).
Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng đã đánh dấu một cột mốc quan trọng về đường lối có tính chất nguyên tắc cho cách mạng miền Nam và đặt cơ sở để tiến tới đề ra nhiệm vụ chiến lược một cách chính xác, toàn diện.
Tình hình miền Nam, từ giữa 1959 đã bộc lộ nhiều dấu hiệu chấm dứt sự ổn định tạm thời của chính quyền tay sai và bắt đầu thời kỳ khủng hoảng kéo dài. Mọi tầng lớp nhân dân đều bất bình, căm phẫn, sẵn sàng đứng lên đấu tranh chống lại địch. Nội bộ ngụy quyền, ngụy quân phân hóa mạnh. Chính quyền địch ở nông thôn trở nên bất lực, suy yếu, không đủ sức kèm kẹp nhân dân như cũ. Đó là những điều kiện cho phép cuộc khởi nghĩa từng phần có thể nổ ra.
Tháng 12-1959, Hội nghị đại biểu các tỉnh miền Trung Nam Bộ được triệu tập để truyền đạt Nghị quyết 15 của Trung ương và bàn chủ trương chuyển hướng phong trào.
Đêm 2-1-1960, Hội nghị cán bộ lãnh đạo Bến Tre do Tỉnh ủy triệu tập tại một địa điểm ở Mỏ Cày để truyền đạt nghị quyết của Trung ương và bàn kế hoạch phát động quần chúng nổi dậy diệt ác, phá thế kềm kẹp của địch. Nghị quyết của hội nghị là phát động một tuần lễ nổi dậy đồng loạt trong tỉnh từ 17-1-1960 đến 25-1-1960.
Ngày 17-1-1960, theo kế hoạch đã định, cuộc khởi nghĩa nổ ra thắng lợi đúng như dự kiến tại 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (huyện Mỏ Cày).
Ngày 22-2-1960, Mỹ - Diệm tập trung lực lượng phản kích mạnh mẽ. Chúng huy động hơn 12 ngàn quân chủ lực từ các tỉnh lân cận, có 15 tàu chiến và nhiều máy bay, đài bác yểm trợ tấn công vào trung tâm cuộc khởi nghĩa, nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng hòng lập lại trật tự cũ. Lực lượng vũ trang non trẻ ở 3 xã đã chặn đánh địch quyết liệt.
Ngày 27-2-1960, nhân dân các xã Phước Hiệp, Bình Khánh, Định Thủy đi trên 200 chiếc xuồng, gồm các chị, các mẹ bế theo con cái, mang người bị thương, đội khăn tang, đem theo gạo thóc, soong nồi, miệng tản “tân cư” vào thị trấn Mỏ Cày, đưa yêu sách đòi quân trưởng ra lệnh rút quân, chấm dứt càn quét khủng bố. Cuộc đấu tranh kéo dài 12 ngày.
Ngày 10-3-1960, đại diện Bộ tổng tham mưu Sài Gòn bay đến Bến Tre, thị sát tình hình và sau đó phải ra lệnh rút quân, bỏ dở cuộc càn quét.
Sau khi chỉ đạo Mỏ Cày khởi nghĩa thắng lợi, Đảng bộ Bến Tre quyết định chuyển hướng sang Giồng Trôm, tập trung ở 3 xã trọng điểm Châu Hòa, Châu Bình và Phong Mỹ.
Tháng 3-1960, một cuộc đấu tranh chính trị của hơn 7.000 phụ nữ Giồng Trôm đòi các đơn vị quân chủ lực của địch đang đi càn phải rút về vị trí cũ.
Tháng 6-1960, Xứ ủy Nam Bộ quyết định phát động Đồng khởi trong toàn Nam Bộ.
Tháng 9-1960, Ban lãnh đạo miền Trung Nam Bộ họp đánh giá tình hình, rút kinh nghiệm phong trào Đồng khởi Bến Tre, ra nghị quyết phát động phong trào Đồng khởi trong toàn khu 8.
Cao trào đồng khởi từ Bến Tre nhanh chóng lan rộng khắp các tỉnh Nam Bộ, ra các tỉnh ven biển Khu 5 và Tây Nguyên, làm thay đổi cục diện ở miền Nam, phá vỡ một mảng lớn hệ thống chính quyền cơ sở của địch.
Ngày 24-9-1960, Bến Tre phát động cuộc Đồng khởi II, sau khi đã kiểm điểm, rút kinh nghiệm của cuộc nổi dậy đồng loạt đợt I. Cuộc Đồng khởi không chỉ diễn ra ở những nơi có phong trào mạnh, mà còn được phát động ngay cả ở những vùng yếu, cơ sở cách mạng còn mỏng trong các huyện khác trong tỉnh.
Như vậy, Đồng khởi ở Bến Tre không chỉ có nghĩa đơn giản là cuộc nổi dậy đồng loạt của nhân dân từ tay không cướp đồn địch, giành chính quyền và cũng không chỉ giới hạn trong đợt I và đợt II. Đồng khởi là một quá trình liên tục tiến công, liên tục nổi dậy, liên tục giành thắng lợi, hết đợt này đến đợt khác. Đó là một hình thức đấu tranh độc đáo, sáng tạo của cách mạng Việt Nam.
Thắng lợi của cuộc Đồng khởi Bến Tre và các cuộc đồng khởi trong toàn miền tiếp sau đó đã đưa đến việc thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ngày 20-12-1960.
Nguồn: Sách địa chí Bến Tre



