BI HÙNG MỘT KIẾP NHÂN SINH, TRỌN VẸN TẤM LÒNG TRUNG TRINH VỚI TỔ QUỐC
BÀI VĂN LỊCH SỬ VỀ ĐẠI DANH THẦN NGUYỄN TRI PHƯƠNG (1800 – 1873): KHÍ TIẾT LẪM LIỆT CỦA BẬC VÕ HIỂN ĐẠI HỌC SĨ
Lịch sử Việt Nam thế kỷ XIX ghi nhận những biến động đau thương khi thực dân Pháp nổ pháo xâm lược. Trong bão táp ấy, hình ảnh Đại danh thần Nguyễn Tri Phương hiện lên như một biểu tượng bất tử của lòng trung trinh và tinh thần bất khuất. Là vị Tổng chỉ huy chống Pháp trên cả ba mặt trận Đà Nẵng, Gia Định và Hà Nội, ông đã cống hiến trọn đời cho Tổ quốc và hi sinh oanh liệt để bảo toàn khí tiết.
Nguyễn Tri Phương (1800 – 1873), tên cũ là Nguyễn Văn Chương, sinh ra tại làng Đường Long, phường Phong Dinh, thành phố Huế. Xuất thân từ gia đình nông dân nghèo làm nghề thợ mộc, không qua con đường khoa bảng, ông vươn lên bằng chính ý chí tự lập và tài năng kiệt xuất. Năm 1820, ông bắt đầu bằng chức Thơ lại tại huyện Hương Điền. Nhờ sự mẫn cán và văn sớ khúc chiết, ông nhanh chóng được vua Minh Mạng phát hiện, cất nhắc qua nhiều chức vụ ở Nội các. Đến thời Thiệu Trị và Tự Đức, ông trở thành bậc Phụ chính đại thần, giữ tước Tráng Liệt bá và được phê cải tên thành Nguyễn Tri Phương – với ý nghĩa trí tuệ, dũng cảm và phương lược.
Không chỉ nổi tiếng trên chiến trường, ông còn là nhà quản lý kinh tế – xã hội tài ba. Khi làm Kinh lược sứ Nam Kỳ (1850 – 1853), ông chủ trương lập đồn điền, chiêu mộ dân nghèo khai khẩn đất hoang ở Biên Hòa, Gia Định, Định Tường. Chính sách này vừa giải quyết việc làm cho nhân dân, biến đầm lầy thành đồng ruộng phì nhiêu, vừa tạo nên lực lượng bán quân sự tại chỗ giữ vững biên cương Tây Nam. Trước đó, ông cùng tướng Doãn Uẩn đã đánh bại quân Xiêm La (1845), bình định Cao Miên và được vua Thiệu Trị ban tặng danh hiệu "An Tây trí dũng tướng".
Khi thực dân Pháp nổ pháo xâm lược, Nguyễn Tri Phương trở thành linh hồn của cuộc kháng chiến triều đình:
Mặt trận Đà Nẵng (1858 – 1859): Được cử làm Quân thứ Tổng thống đại thần, ông sáng suốt nhận định sự chênh lệch hỏa lực nên không giao chiến chính diện trên biển. Ông cho lập tuyến phòng thủ kiên cố, thực hiện "vườn không nhà trống" và liên tục tập kích du kích. Chiến thuật vây hãm tài tình này đã cầm chân quân Pháp suốt 5 tháng trên bán đảo Sơn Trà, làm phá sản hoàn toàn chiến lược "Đánh nhanh thắng nhanh" của kẻ thù.
Mặt trận Gia Định (1860 – 1861): Sau khi thành Gia Định thất thủ, ông vào Nam chỉ huy và xây dựng Đại đồn Chí Hòa – một công sự phòng thủ khổng lồ nhằm ép chặt quân địch. Tháng 2/1861, Pháp tập trung hỏa lực pháo binh hạng nặng tấn công. Nguyễn Tri Phương trực tiếp cầm gươm đốc chiến và bị thương nặng, em trai ông là Nguyễn Duy hy sinh, Đại đồn thất thủ.
Dẹp giặc Bắc Kỳ (1870 – 1872): Được cử ra Bắc dẹp các nhóm giặc cướp, ông thể hiện tư duy quân sự mềm dẻo khi thực hiện sách lược "chiêu an", thu phục Quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc để tiêu diệt các băng nhóm Cờ Vàng, Cờ Trắng, trả lại bình yên cho vùng biên giới.
Năm 1873, Francis Garnier mang quân ra Bắc Kỳ, lấy cớ giải quyết tranh chấp thương mại nhưng thực chất âm mưu chiếm Hà Nội. Đêm 19 rạng sáng 20/11/1873, quân Pháp bất ngờ nổ pháo tấn công thành Hà Nội. Con trai ông là Phò mã Nguyễn Lâm trúng đạn tử trận tại Cửa Nam. Dù đã 73 tuổi, Nguyễn Tri Phương vẫn dũng cảm ra tận cửa thành đốc chiến và bị mảnh pháo làm vỡ vết thương nặng ở bụng. Thành Hà Nội thất thủ, ông rơi vào tay giặc.
Biết ông là vị danh tướng có uy tín lớn, quân Pháp tìm mọi cách cứu chữa, dâng đồ ăn ngon nhằm dụ dỗ ông hợp tác. Nhưng trước kẻ thù xâm lược, ông gạt phăng mọi sự cứu chữa, xé bỏ băng gạc và khảng khái tuyên bố: "Bây giờ nếu ta chỉ gắng lây lất mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa!". Ông quyết định tuyệt thực suốt gần một tháng. Ngày 20/12/1873 (ngày 1/11 âm lịch), ông trút hơi thở cuối cùng, giữ trọn tấm lòng trung trinh với non sông.
Cuộc đời Nguyễn Tri Phương là bản hùng ca trọn vẹn về chí hiên ngang và lòng yêu nước. Sự ra đi của ông khẳng định một sự thật bất biến: Người Việt Nam có thể ngã xuống trước vũ khí hiện đại, nhưng tinh thần kiên trung và lòng tự tôn dân tộc thì kẻ thù không bao giờ khuất phục được. Tên tuổi Nguyễn Tri Phương mãi mãi khắc ghi trong lịch sử dân tộc như một tấm gương sáng ngời cho muôn đời sau.



