BÍ MẬT DƯỚI NỀN GẠCH SỐ 287/70 NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Bài viết kể về Trần Văn Lai – người chiến sĩ tình báo đã xây dựng những căn hầm bí mật ngay giữa lòng Sài Gòn để cất giấu vũ khí phục vụ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Thông qua câu chuyện về lòng dũng cảm, sự mưu trí và những hy sinh thầm lặng của ông cùng lực lượng Biệt động Sài Gòn, bài viết góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, khơi dậy niềm tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc gìn giữ, phát huy những giá trị lịch sử và xây dựng đất nước.

BÍ MẬT DƯỚI NỀN GẠCH SỐ 287/70 NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Người xây những căn hầm dưới lòng Sài Gòn
Câu chuyện về Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trần Văn Lai (Mai Hồng Quế)
Có những người làm nên lịch sử bằng những trận đánh vang dội, được ghi tên trong sử sách với đầy đủ chiến công. Nhưng cũng có những con người lặng lẽ góp phần làm nên lịch sử chỉ bằng một chiếc bay xây, một viên gạch, một bao xi măng và một lòng yêu nước không bao giờ tắt. Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trần Văn Lai là một người như thế.
Giữa lòng Thành phố Hồ Chí Minh hôm nay, trong một con hẻm nhỏ thông ra hai tuyến đường Nguyễn Đình Chiểu và Võ Văn Tần (Quận 3 cũ), có một ngôi nhà cấp bốn tưởng như bình dị, rộng chỉ khoảng 37m², dài 14,9m và rộng 2,5m. Khách qua đường khó có thể hình dung rằng ngay dưới nền gạch bông kiểu Sài Gòn xưa của ngôi nhà ấy, phía dưới một chiếc bàn trà nhỏ, từng cất giấu gần 2 tấn vũ khí, trong đó có 350kg thuốc nổ TNT và C4, 15 khẩu súng AK, súng B40 và hàng nghìn viên đạn, để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968. Đó chính là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia mang tên "Hầm chứa vũ khí của Biệt động Sài Gòn tấn công Dinh Độc Lập Tết Mậu Thân 1968", gắn liền với tên tuổi người chiến sĩ tình báo, nhà thầu khoán tài ba Trần Văn Lai - bí danh Năm Lai, Năm U.SOM, tên hoạt động Mai Hồng Quế.
1. Từ chàng trai Thái Bình đến "tỷ phú" đất Sài Gòn
Trần Văn Lai sinh ngày 10 tháng 10 năm 1920 tại xã Vũ Đông, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình (nay là phường Trần Lãm, tỉnh Hưng Yên). Ông tham gia cách mạng từ năm 22 tuổi, trải qua những năm kháng chiến chống Pháp trong đội hình lực lượng vũ trang miền Nam trước khi được tổ chức tin tưởng giao nhiệm vụ đặc biệt: ở lại hoạt động bí mật ngay trong lòng Sài Gòn sau Hiệp định Genève. Ông mang quân hàm Thượng úy, sau này là cán bộ cấp Tiểu đoàn, C trưởng biệt động thuộc Đơn vị 159 Biệt động Quân khu Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định.
Để có vỏ bọc hợp pháp hoạt động trong lòng địch, tổ chức đã sắp xếp cho ông kết hôn với bà Phạm Thị Chinh (bí danh Phạm Thị Phan Chính), một đảng viên hoạt động bí mật. Nhờ thế lực gia đình vợ, ông từng bước trở thành nhà thầu khoán có tiếng trong giới tư sản Sài Gòn với tên giao dịch Mai Hồng Quế, chuyên trang trí nội thất cho Dinh Độc Lập (Phủ Đầu Rồng) và len lỏi vào làm việc tại cơ quan viện trợ USOM cùng Tòa Đại sứ Mỹ. Chính vỏ bọc "tỷ phú" hào hoa này đã trở thành nguyên mẫu cho nhân vật ông chủ hãng sơn Đông Á trong bộ phim kinh điển "Biệt động Sài Gòn" (đạo diễn Long Vân, 1986) sau này.
Đằng sau vỏ bọc hào nhoáng ấy là một mất mát không gì bù đắp: năm 1964, bà Phạm Thị Chinh, người vợ đầu, cũng là đồng chí của ông, bị chính quyền Sài Gòn bắt giữ và tra tấn đến hy sinh, sau này được Nhà nước công nhận là liệt sĩ. Ông tiếp tục hoạt động và xây dựng gia đình với người vợ thứ hai, bà Đặng Thị Thiệp, cũng là một chiến sĩ biệt động thành. Để bảo vệ bí mật hoạt động và sự an toàn của các con, suốt nhiều năm ông yêu cầu con cái gọi mình bằng "bác" thay vì "cha". Hai vợ chồng mãi đến năm 1979 mới chính thức đăng ký kết hôn.
2. Người vẽ bản đồ, dò đường cho cách mạng
Với danh nghĩa nhà thầu khoán được tin cậy ra vào Dinh Độc Lập, Trần Văn Lai đã bí mật nghiên cứu, vẽ lại sơ đồ bố trí, quy luật tuần tra canh gác của binh lính tại đây. Ông còn lấy được bản đồ toàn bộ hệ thống cống ngầm của Sài Gòn, cắt thành nhiều mảnh nhỏ, đánh ký hiệu thứ tự rồi ngụy trang, giấu dưới đệm và lốp xe sơ-cua, vận chuyển an toàn ra căn cứ. Theo chỉ đạo của Tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, Trần Hải Phụng, ông phải bảo đảm "ba hóa": nghề nghiệp hóa, quần chúng hóa và hợp pháp hóa, để vừa hoạt động an toàn trong lòng địch, vừa tạo điều kiện cho cán bộ ta ra vào nội thành trót lọt.
1. Chọn "pháo đài" ngay sát nách kẻ thù
Năm 1965-1966, được cấp trên giao nhiệm vụ tìm nơi cất giấu vũ khí gần Dinh Độc Lập, Trần Văn Lai đã mua liền lúc ba căn nhà số 287/68, 287/70 và 287/72 trên đường Nguyễn Đình Chiểu (khi đó còn là đường Phan Đình Phùng, thông ra đường Trần Quý Cáp - nay là Võ Văn Tần). Ông chọn căn 287/70 làm nơi đào hầm chính. Bà Đặng Thị Thiệp - vợ ông - sau này nhớ lại thời điểm cùng chồng đi xem nhà: khu vực ấy ngày đó còn hoang sơ, đường đất, nhà cửa lụp xụp, hoàn toàn khác với sự sầm uất ngày nay.
2. Lấy cớ đào hố ga để giấu cả một kho vũ khí
Để tránh mọi nghi ngờ, ông Lai lấy cớ sửa nhà, cần đào hố ga làm nhà vệ sinh để bắt đầu công việc. Suốt gần một năm ròng rã, chủ yếu vào ban đêm, hai vợ chồng ông tự tay đào và thi công căn hầm. Đất đá đào lên được cho vào các thùng carton, chở đi nơi khác bằng ô tô để không ai phát hiện dấu vết bất thường. Căn hầm hoàn thành với kích thước dài hơn 8m, rộng 2m, sâu 2,5m, tường được trát xi măng dày để chống thấm, có các ống thông khí kiêm lối thoát hiểm nối với hệ thống thoát nước của thành phố. Nắp hầm nằm ngay giữa phòng khách, chỉ rộng khoảng 60cm x 40cm, ngụy trang khéo léo dưới lớp gạch bông và chiếc bàn trà, có sức chứa khoảng 15 người cùng lúc.
Từ cuối năm 1967, sau khi cấp trên về kiểm tra và công nhận căn hầm đạt yêu cầu, việc vận chuyển vũ khí từ căn cứ Củ Chi vào nội đô mới chính thức bắt đầu, luôn thực hiện vào lúc nhá nhem tối. Đích thân Trần Văn Lai nhiều lần tự lái xe, cải trang thành xe chở vật liệu xây dựng, nội thất hoặc hàng hóa dân dụng, để đưa vũ khí lọt qua các trạm kiểm soát ngay giữa trung tâm Sài Gòn. Tính đến đầu năm 1968, gần 2 tấn vũ khí gồm súng AK, đầu đạn B40, bộc phá, kíp nổ, súng ngắn, lựu đạn và đạn dược các loại đã được cất giấu an toàn tuyệt đối dưới nền căn nhà nhỏ ấy.
Không dừng lại ở căn hầm chứa vũ khí tại số 287/70 Nguyễn Đình Chiểu, năm 1966, Trần Văn Lai tiếp tục xây dựng một hầm nổi tại số 42/82 Nguyễn Văn Thành, Bà Chiểu (nay là số 42/82 Huỳnh Đình Hai, phường Gia Định, Thành phố Hồ Chí Minh) làm căn cứ dự bị cho Sở Chỉ huy cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Cùng thời gian này, ông còn thiết kế và xây dựng hộp thư bí mật kết hợp hầm nổi tại số 113A Đặng Dung, Quận 1 (nay thuộc phường Tân Định, Thành phố Hồ Chí Minh). Cơ sở này được ngụy trang dưới vỏ bọc một quán cà phê - cơm tấm, đồng thời nằm ngay cạnh nơi ở của Trung tướng Ngô Quang Trưởng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Chính vị trí tưởng như nguy hiểm ấy lại trở thành "lá chắn" hoàn hảo, khiến đối phương không hề nghi ngờ đây là một đầu mối liên lạc, cất giấu tài liệu và hỗ trợ hoạt động của lực lượng Biệt động Sài Gòn trong suốt những năm chiến tranh.
Rạng sáng mùng 2 Tết Mậu Thân (1/1968), tại căn nhà 287/70 Nguyễn Đình Chiểu, Đội 5 Biệt động Sài Gòn gồm 15 cán bộ, chiến sĩ đã tập trung nhận vũ khí từ căn hầm bí mật trước khi xuất phát tấn công Dinh Độc Lập. Một chi tiết khiến hậu thế không khỏi xúc động: nhiều chiến sĩ trong đội hình hôm ấy ngồi ngay trên miệng hầm chứa vũ khí mà vẫn chưa hề biết vũ khí sẽ được lấy ra từ đâu, trận đánh sẽ diễn ra ở vị trí nào bởi nguyên tắc bí mật tuyệt đối được giữ đến tận phút chót.
Cùng thời điểm đó, tại nhiều căn hầm khác do chính tay Trần Văn Lai xây dựng và tiếp tế, các mũi tiến công của lực lượng Biệt động Sài Gòn đồng loạt nổ súng vào những cơ quan đầu não của chính quyền và quân đội Sài Gòn: Dinh Độc Lập, Tòa Đại sứ Mỹ, Đài Phát thanh, Bộ Tư lệnh Hải quân... Bản thân ông cũng trực tiếp có mặt trên những chuyến xe chở vũ khí và cán bộ chỉ huy vào nội đô ngay trong đêm mở màn chiến dịch, đồng thời từng đảm nhận việc đưa đón chỉ huy trận đánh vào Tòa Đại sứ Mỹ từ căn cứ về nội thành và trở ra an toàn.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã gây chấn động dư luận trong nước và quốc tế, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, dù phía cách mạng cũng chịu tổn thất không nhỏ. Những khẩu súng từng nằm im lìm suốt hai năm dưới lớp gạch bông của một căn nhà dân dụng bình thường đã góp một phần vào bước ngoặt làm thay đổi cục diện cuộc chiến.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Sau trận Mậu Thân, quân địch phát hiện ra vai trò của những cơ sở bí mật này, thân phận cộng sản nằm vùng của "tỷ phú" Mai Hồng Quế bị lộ. Toàn bộ nhà cửa, tài sản của gia đình ông bị chính quyền Sài Gòn tịch thu; ông buộc phải rời bỏ cuộc sống công khai, sống lẩn trốn trong khi bị treo giá truy nã. Không lâu sau, ông bị bắt và bị đày ra Côn Đảo, phải chịu đựng những đòn tra tấn khốc liệt của nhà tù Mỹ - ngụy, những vết thương mà theo gia đình, đã để lại di chứng đeo bám ông đến cuối đời.
Sau ngày đất nước thống nhất, Trần Văn Lai tiếp tục công tác tại Phòng Tổng kết chiến tranh, Bộ Tư lệnh Thành phố cho đến năm 1981 thì nghỉ hưu với quân hàm Thượng úy, là thương binh hạng 1/4 với tỷ lệ thương tật 81%. Ông qua đời ngày 25/6/2002 tại Thành phố Hồ Chí Minh do di chứng của những đòn tra tấn trong nhà tù trước đây. Ghi nhận những chiến công thầm lặng và sự hy sinh to lớn ấy, đúng dịp kỷ niệm 40 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/2015), Đảng và Nhà nước đã truy tặng ông danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Ông Huỳnh Văn Cang (Tư Cang), nguyên Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, khi viết về người đồng đội cũ ngay sau ngày ông mất, đã dành những lời trân trọng: đó là một cán bộ tình báo "đầy dũng cảm, thành tích chất chồng, phẩm chất cao quý".
Câu chuyện về Trần Văn Lai có lẽ đã có thể chìm vào quên lãng như bao câu chuyện thầm lặng khác của chiến tranh, nếu không có hành trình bền bỉ suốt hàng chục năm của người con trai ông - ông Trần Vũ Bình. Từ thập niên 1990, cảm phục trước sự hy sinh của cha mẹ và đồng đội, ông Bình đã dành nhiều công sức và tiền của để tìm mua lại những căn nhà, hiện vật từng là nơi hoạt động bí mật của Biệt động Sài Gòn, kiên trì phục dựng nguyên trạng thay vì sửa chữa bằng vật liệu mới. Đến nay, ông đã sưu tầm được khoảng 10.000 tư liệu, hiện vật liên quan đến lực lượng Biệt động Sài Gòn.
Chia sẻ về động lực của mình, ông Trần Vũ Bình từng bày tỏ quan niệm: còn điều kiện, còn sống thì phải tiếp tục tìm lại và dựng xây những gì cha chú mình đã đổi bằng xương máu, bởi chiến tranh kết thúc không có nghĩa là được phép lãng quên lịch sử dân tộc. Nhờ những nỗ lực ấy, năm 1988 di tích 287/70 Nguyễn Đình Chiểu chính thức được công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia; sau này gia đình ông còn khôi phục thêm các địa điểm khác như căn nhà 113A Đặng Dung, và mở Bảo tàng Biệt động Sài Gòn - Gia Định đầu tiên của cả nước tại số 145 Trần Quang Khải (nay thuộc phường Tân Định, Thành phố Hồ Chí Minh), trưng bày dưới tên gọi "Biệt động Sài Gòn - Những căn hầm huyền thoại".
Điều đáng quý là truyền thống ấy đang được tiếp nối sang thế hệ thứ ba: cháu nội của Anh hùng Trần Văn Lai - em Trần Trọng Nhân, dù còn là học sinh Trung học cơ sở, đã cùng gia đình trực tiếp giới thiệu cho khách tham quan về những kỷ vật và câu chuyện của ông nội mình sau mỗi giờ tan học.
Những đoàn khách đặc biệt
Không chỉ đón khách tham quan trong nước và quốc tế, đến nay di tích còn vinh dự nhiều lần đón các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội đến thăm. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng đến thăm căn hầm và bày tỏ sự khâm phục trước tinh thần dũng cảm phi thường của các chiến sĩ Biệt động Sài Gòn. Năm 2018, nhân chuyến công tác tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã đến thăm di tích, trò chuyện cùng bà Đặng Thị Thiệp và ông Phan Văn Hôn (Bảy Hôn) - một trong những chiến sĩ Đội 5 Biệt động từng trực tiếp tham gia trận đánh Dinh Độc Lập năm xưa.
Tháng 1 năm 2026, Chi đoàn giáo viên Trường THCS An Phú (Thành phố Hồ Chí Minh) đã tổ chức cho các thầy cô cùng đông đảo học sinh thực hiện một chuyến về nguồn đầy ý nghĩa, tìm đến địa chỉ đỏ tại số nhà 287/70 đường Nguyễn Đình Chiểu, nơi từng cất giấu gần 2 tấn vũ khí của Biệt động Sài Gòn trước trận đánh Dinh Độc Lập Tết Mậu Thân 1968. Đây là một trong những hoạt động thiết thực nằm trong chuỗi chương trình giáo dục truyền thống cách mạng, lịch sử, văn hóa dân tộc dành cho đoàn viên, thanh niên và học sinh của nhà trường.
Muốn đến được di tích, đoàn chúng tôi phải rẽ vào một con hẻm nhỏ, len lỏi giữa nhịp sống ồn ào, tấp nập của khu dân cư đông đúc bậc nhất Quận 3 (nay thuộc phường Bàn Cờ, Thành phố Hồ Chí Minh). Không bảng hiệu hoành tráng, không kiến trúc đồ sộ - ngôi nhà cấp bốn khiêm nhường ấy khiến nhiều em học sinh không khỏi ngạc nhiên khi biết rằng mình đang đứng trước một chứng tích lịch sử cấp quốc gia. Chính sự bình dị, gần như vô hình ấy, lại là minh chứng thuyết phục nhất cho tài trí và lòng gan dạ của những người đã tạo ra nó giữa vòng vây kẻ thù.
Bước qua cánh cửa gỗ nhỏ, cả thầy và trò không khỏi xúc động khi được tận mắt nhìn thấy không gian bên trong, nay đã được gia đình cải tạo thành quán cà phê Đỗ Phủ, vừa để du khách dừng chân nghỉ ngơi, vừa lặng lẽ chiêm ngưỡng những hiện vật được trưng bày ngay trong không gian sinh hoạt: những chiếc hòm đựng đạn, chiếc loa phát thanh cũ, tấm bản đồ tác chiến, hay chiếc "cà tăng" (loại giỏ đan) mà các chiến sĩ giao liên năm xưa từng dùng để ngụy trang vũ khí khi vận chuyển. Ngay dưới lớp gạch bông gần cầu thang, nắp hầm bí mật vẫn còn nguyên vị trí cũ; từng nhóm học sinh lần lượt cúi xuống, quan sát lối vào hầm hẹp và không giấu nổi sự thán phục khi hình dung lại không gian chật chội, ngột ngạt mà các chiến sĩ biệt động từng nhận vũ khí trong đêm tối.
Trong buổi tham quan, các thầy cô đã lồng ghép kể lại cho học sinh câu chuyện về Anh hùng Trần Văn Lai và gia đình ông, từ vỏ bọc nhà thầu khoán, quá trình đào hầm gian khổ, cho đến sự hy sinh thầm lặng mà ông và người vợ đầu, bà Phạm Thị Chinh, đã trải qua. Nhiều em học sinh bày tỏ sự bất ngờ và cảm phục khi biết rằng ngay dưới nền nhà bình dị nơi mình đang đứng, cha ông ta từng cất giấu cả một kho vũ khí ngay sát nách kẻ thù mà không hề bị phát hiện suốt nhiều năm liền. Đây thực sự là một bài học lịch sử sống động, chân thực hơn bất kỳ trang sách giáo khoa nào, giúp các em hiểu sâu sắc hơn về giá trị của hòa bình, độc lập mà thế hệ hôm nay đang được thụ hưởng.
Kết thúc buổi tham quan, nhiều học sinh chia sẻ mong muốn được tìm hiểu thêm về lực lượng Biệt động Sài Gòn và các địa chỉ đỏ khác trên địa bàn Thành phố. Đối với tập thể Chi đoàn giáo viên Trường THCS An Phú, đây không chỉ là một chuyến đi tham quan đơn thuần, mà còn là dịp để khơi dậy trong các em lòng tự hào dân tộc, tinh thần tri ân các thế hệ cha anh đi trước, đồng thời góp phần thực hiện hiệu quả nhiệm vụ giáo dục truyền thống cách mạng gắn với các "địa chỉ đỏ" mà Đề án của Đoàn đã đề ra.
Điều khiến người viết bài này xúc động nhất khi tìm hiểu về Trần Văn Lai không chỉ là những chiến công được ghi trong sử sách, mà còn là cuộc sống rất đỗi bình thường của ông: ban ngày là một nhà thầu khoán, một "tỷ phú" hào hoa giữa chốn phồn hoa Sài Gòn; ban đêm lại âm thầm cầm bay, cầm cuốc, chuẩn bị cho một trận chiến mà ông biết rất rõ có thể mình sẽ không bao giờ được nhắc tên nếu chẳng may thất bại hay hy sinh. Có lẽ, chính những con người bình dị, sẵn sàng đánh đổi cả danh vọng, tài sản và mạng sống như vậy đã tạo nên sức mạnh phi thường của cả một dân tộc.
Mỗi viên gạch trong căn hầm nhỏ ấy dường như vẫn còn mang theo hơi thở của một thời hoa lửa. Mỗi hiện vật được trưng bày đều là một chứng nhân lịch sử sống động. Và mỗi người trẻ khi đặt chân đến nơi đây đều có cơ hội được học một bài học không có trong bất kỳ trang sách giáo khoa nào: lịch sử dân tộc không chỉ được viết nên bởi những chiến thắng vang dội, mà còn được xây đắp từ sự hy sinh thầm lặng của biết bao con người bình dị, những người chấp nhận sống ẩn danh, thậm chí bị hiểu lầm, chỉ để đổi lấy nền độc lập, tự do cho các thế hệ mai sau.
Câu chuyện về Trần Văn Lai, vì thế, không chỉ là câu chuyện của quá khứ. Đó còn là lời nhắc nhở thế hệ đoàn viên, thanh niên hôm nay về trách nhiệm gìn giữ ký ức dân tộc, trân trọng giá trị của hòa bình và tiếp nối tinh thần yêu nước bằng những việc làm thiết thực trong học tập, lao động và cuộc sống hằng ngày. Đúng như tâm nguyện mà gia đình ông vẫn luôn gìn giữ: những căn hầm bí mật đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, nhưng giá trị mà chúng để lại sẽ còn mãi, như một biểu tượng bất diệt của lòng quả cảm, trí tuệ và niềm tin vào ngày toàn thắng.



