Bia Chiến Công Bồ Hòn và Câu Chuyện Thời Hoa Lửa Ở Nam Đường
Với mong muốn giữ gìn truyền thống yêu nước, uống nước nhớ nguồn, từ lâu ông em vẫn thường kể cho em nghe những câu chuyện thời hoa lửa bằng tất cả niềm tự hào. Một trong những câu chuyện ấy là về cuộc kháng chiến chống Pháp ở thôn Nam Đường – xã Nam Cao, nơi nổi bật với sự đóng góp của đồng chí Nguyễn Duy Xuân. Ông em kể rằng khi chiến tranh xảy ra, ông mới chỉ là một đứa trẻ vài tuổi. Đến khi lớn hơn, ông thường nghe mọi người nhắc lại những chứng tích lịch sử ở thôn Nam Đường.
Những năm đầu thập niên 1950, xã Nam Cao (huyện Kiến Xương) là một vùng quê tuy bình yên nhưng cũng đầy gian khó vì chiến tranh lan rộng. Thôn Nam Đường, một trong những thôn quan trọng của xã, nhanh chóng trở thành nơi tập trung lực lượng kháng chiến. Tại đây, Trung đội du kích thôn được thành lập, ban đầu chỉ khoảng 30 người, sau tăng lên 60 người. Họ đều là những thanh niên dũng cảm, mang trong mình tinh thần yêu nước và sẵn sàng bảo vệ quê hương. Trong số ấy, đồng chí Nguyễn Duy Xuân được nhắc đến như người trực tiếp cài mìn, đặt bẫy chông và đóng vai trò quan trọng trong nhiều trận phục kích.
Vũ khí của du kích thời đó rất thô sơ. Họ chỉ có vài khẩu súng trường, khoảng 30 quả lựu đạn mỏ vịt, 40 quả mìn tự chế và nhiều dụng cụ như bàn chông, mã tấu, búp đa… Hiểu rõ sự khó khăn của mình so với quân Pháp, du kích Nam Đường đã tận dụng địa hình làng, xây ụ chiến đấu, rào làng, đào hầm bí mật, giao thông hào và bẫy chông để tạo lợi thế chiến thuật và bảo vệ dân làng.
Trong giai đoạn 1950–1954, Trung đội du kích Nam Đường đã tham gia 41 trận lớn nhỏ để chống thực dân Pháp. Một trong những trận nổi bật nhất là cuộc càn năm 1953, khi quân Pháp kéo vào thôn nhằm đàn áp lực lượng du kích. Trung đội đã đặt mìn và chông tại các vị trí quan trọng, đặc biệt là cầu Bồ Hòn, cây cầu nhỏ dẫn vào thôn. Khi quân Pháp đi qua, quả mìn phát nổ, gây thương vong nặng. Theo ghi chép trên bia chiến công, trận đánh này đã khiến “mười lăm tên giặc chẳng còn nguyên thây.” Những trận phục kích như vậy đã giúp du kích Nam Đường giữ vững thôn, bảo vệ nhân dân khỏi sự chiếm đóng.
Cuộc kháng chiến cũng đem lại nhiều mất mát. Có 9 chiến sĩ du kích hy sinh, 5 người bị thương, và nhiều nhà cửa bị phá hủy. Dù vậy, dân làng vẫn kiên trì lao động, che giấu du kích, cung cấp lương thực và giúp họ bám trụ. Nhờ sự đoàn kết ấy, Nam Đường đã gây tổn thất lớn cho quân Pháp: tiêu diệt 103 tên, bắt sống 16 tên, làm bị thương 39 tên và thu được 12 khẩu súng.
Sau chiến tranh, nhân dân thôn dựng bia chiến công tại cầu Bồ Hòn để tưởng nhớ công lao của Trung đội du kích và sự hy sinh của người dân. Trên bia có khắc những câu thơ:
“Giặc càn qua gốc bồ hòn
Mười lăm tên giặc chẳng còn nguyên thây
Cầu Bồ Hòn vẫn còn đây
Chông, mìn du kích đánh Tây tuyệt vời.”
Những câu chuyện ấy không chỉ là chứng tích lịch sử mà còn là bài học lớn về lòng dũng cảm, tinh thần đoàn kết và ý chí kiên cường. Chúng nhắc nhở rằng sự phối hợp giữa quân du kích và nhân dân hậu phương chính là chìa khóa của mọi chiến thắng. Đồng thời, đó cũng là lời nhắc nhở thế hệ trẻ biết tự hào về quê hương mình và biết quý trọng hòa bình hôm nay.
Ngày nay, mỗi khi nhìn bia chiến công và nghe ông bà kể về những năm tháng ấy, em và nhiều người dân xã Nam Cao luôn cảm thấy tự hào. Thật tự hào vì quê hương mình đã từng có những con người bình dị mà dũng cảm, góp phần làm nên những trang sử oai hùng của dân tộc.
Khi nghe ông kể lại, em thấy vô cùng xúc động và biết ơn. Em tự hào vì quê hương nhỏ bé của mình từng là nơi có những con người kiên cường đứng lên chống giặc. Em càng thương những người đã ngã xuống và kính trọng những ai đã âm thầm góp sức bảo vệ làng quê. Những câu chuyện ấy giúp em hiểu rằng hòa bình bây giờ thật quý giá, và thế hệ trẻ như em phải cố gắng học tập, sống tốt để xứng đáng với những gì cha ông để lại.


