Khác

bia đề danh Tiến sĩ khoa Đinh Mùi (1487), khoa Phạm Bảo - người em họ Phạm Đạo Phú đỗ Hoàng giáp.

bia đề danh Tiến sĩ khoa Đinh Mùi (1487), khoa Phạm Bảo - người em họ Phạm Đạo Phú đỗ Hoàng giáp.

Hà Tĩnh07/04/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm Hồng Đức 26 (1495), Phạm Đạo Phú được bổ nhiệm giữ chức Hàn lâm viện Hiệu kiểm (sau này gọi là Hàn lâm viện Kiểm thảo), chuyên phụ trách việc kiểm thảo, biên tập các văn thư, chiếu chế của triều đình. Đây là chức vụ đòi hỏi học vấn uyên thâm, văn phong chuẩn mực và sự cẩn trọng cao độ.

Sau đó, ông được thăng chức Hình bộ Tả thị lang, một chức quan cao cấp của Hình bộ, chỉ đứng sau Thượng thư và Tham tri, mang hàm Chánh tam phẩm. Trên cương vị này, ông giúp Thượng thư trông coi việc pháp luật, xét duyệt các án lớn, án ngờ, kiểm tra việc giam giữ tù nhân, bảo đảm sự công minh của pháp luật triều đình.

Đáng chú ý, Phạm Đạo Phú làm quan trải qua bảy triều vua: Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Lê Túc Tông, Lê Uy Mục, Lê Tương Dực, Lê Chiêu Tông và Lê Cung Hoàng. Trong bối cảnh triều Lê từ thịnh trị chuyển dần sang suy thoái, việc ông vẫn giữ được thanh danh và sự tín nhiệm là điều không dễ dàng. Văn bia ở miếu thờ hai anh em tại làng Hưng Thịnh do Hoàng giáp Phạm Văn Nghị soạn đã ghi nhận: “Anh em cùng nhau nối tiếp trước sau, trọn vẹn tiếng tốt ở đương thời”.

Năm Đinh Hợi, niên hiệu Thống Nguyên 6 (1527), Mạc Đăng Dung phế truất vua Lê, cướp ngôi lập ra nhà Mạc. Trước biến cố lớn của lịch sử, Phạm Đạo Phú một lòng trung thành với triều Lê, treo ấn từ quan, trở về quê mở trường dạy học.

Nhà Mạc nhiều lần triệu mời ông ra làm quan, nhưng ông kiên quyết từ chối. Thực chất, trong những năm tháng ở ẩn, Phạm Đạo Phú ngầm chiêu tập nghĩa binh dưới hình thức dạy học, nuôi chí khôi phục nhà Lê. Việc không thành, để tránh liên luỵ cho con cháu, ông cho đổi họ Phạm thành họ Ngô. Dù mang họ khác, con cháu ông vẫn trông nom từ đường họ Phạm. Theo nhà nghiên cứu Trần Mỹ Giống, gần đây, dòng họ đã được chính quyền cho phép đổi trở lại họ Phạm.

Ngày 2 tháng 8 năm Nguyên Hoà 7 (1539), Phạm Đạo Phú qua đời. Lăng mộ của ông hiện nằm tại gò Con Ngựa, xứ đồng Mả Cả, thôn Hưng Thịnh (nay là Đồng Thịnh, tỉnh Ninh Bình). Sau khi mất, ông được vua Lê Thế Tông xếp vào hàng trung thần triều Lê, truy tặng hàm Tham tri, phong làm Trung ý Trung đẳng thần, cho lập đền thờ làm phúc thần.

Năm Tự Đức thứ 7 (1854), dân làng Hưng Thịnh dùng hoa lợi từ 20 mẫu ruộng “Cấp tứ” và tiền khao vọng hơn 3.000 quan để xây dựng, hợp nhất đền thờ Phạm Đạo Phú với đền thờ Phạm Bảo. Bài vị thờ ông ghi: “An dân trấn quốc hiển sĩ binh thần tuấn lương đại vương”.

Theo nhà nghiên cứu Trần Mỹ Giống, quê quán của hai anh em Tiến sĩ Phạm Đạo Phú – Phạm Bảo, các tài liệu có sự ghi chép khác nhau. Một số ghi hai ông quê ở làng Hưng Thịnh, huyện Đại An; số khác xác định quê gốc là làng Hoàng Xá, huyện Đại An. Theo “Hương chỉ” làng Hưng Thịnh, anh em Phạm Đạo Phú là những người có công lớn trong việc khai phá, lập làng Hưng Thịnh, sau Nguyễn Đại Lang.

Tuy nhiên, theo gia phả họ Phạm và nhiều tư liệu địa phương, quê gốc của hai ông là làng Phạm Xá (xưa là Hoàng Xá). Tương truyền, sau khi anh em đỗ đại khoa, làng Hoàng Xá được đổi tên thành Phạm Xá để ghi nhớ sự vinh hiển của dòng họ. Tại đây hiện còn từ đường họ Phạm với hoành phi “Văn minh tổ” và đình ông Nghè thờ hai anh em.

Câu đối trong đình do các bậc đại khoa đời sau đề tặng đã khắc sâu hình ảnh hai anh em đại khoa thời Hồng Đức, làm rạng danh vùng đất cửa biển Đại An – nơi từng được gọi là cửa Nha Ác, Nha Thành.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn