BIỆT ĐỘNG THỊ TRẤN BA TRI
Mẹ VNAH
Theo tài liệu lưu trữ của UBND thị trấn Ba Tri: có 24 cán bộ, chiến sĩ thuộc Đội Biệt động thị trấn Ba Tri đã hy sinh (giai đoạn 1964 - 1975); có 17 người là cán bộ, chiến sĩ Đội Biệt động còn sống đến ngày 30-4-1975, đến nay, hiện một số người này đã không còn cư ngụ tại tỉnh Bến Tre, trong đó có một số người đã mất.
Được thành lập năm 1963, Tổ Biệt động (sau này là Đội Biệt động) thị trấn Ba Tri đã có những trận đánh đồn giặc thật bất ngờ, giành chiến thắng trong thời gian chớp nhoáng. Chiến công này đã góp phần lớn vào việc giải phóng nhanh thị trấn Ba Tri, làm nên thắng lợi 30-4 lịch sử. Phóng viên Báo Đồng Khởi đã có cuộc trao đổi với những người là nhân chứng sống trong thời điểm này: ông Nguyễn Thành Nhân (Hai Nhân, SN 1931), nguyên là ủy viên Thị trấn ủy Ba Tri từ năm 1963, nguyên Bí thư thị trấn Ba Tri (11-1974 - 1975, 1991 - 1995), hiện ngụ tại khu phố 4, thị trấn Ba Tri và ông Đào Văn Thái (Tư Thái, SN 1942), nguyên Chính trị viên Trung đội đặc công Ba Tri (năm 1969), Huyện đội phó, Thượng tá Huyện đội trưởng Huyện đội Ba Tri (nghỉ hưu năm 1996), hiện ngụ tại khu phố 3, thị trấn Ba Tri.
Kể về giai đoạn mới thành lập Tổ Biệt động, ông Nguyễn Thành Nhân nhớ lại: Thời đó (năm 1963), Thị trấn ủy có anh Bảy Dũng (tên thật Lê Quang Hưng), anh Hai Huệ (tên thật Uông Văn Há) và tôi. Chúng tôi chọn ba thanh niên thích hợp để thành lập Tổ Biệt động, do anh Chín Dũng (Nguyễn Văn Tường) làm tổ trưởng và lấy tên danh tướng Lý Thường Kiệt để đặt tên bí danh cho 3 thanh niên này. Đó là Thái Công Lý (tên thật Thái Văn Non), Ngô Phi Thường (Ngô Văn Hà) và Lê Anh Kiệt, trong số này có anh Thái Văn Non là người trẻ tuổi nhất. Sau đó, chúng tôi đưa những người này về xã An Đức tập sự, bồi dưỡng để phục vụ công tác. Bấy giờ, địch mở nhiều đợt càn quét, ruồng bố liên tục nên mấy chiến sĩ trẻ này phải thường xuyên ở hầm bí mật. Cuối cùng, Thái Văn Non được tổ chức cho gia nhập Tổ Biệt động. Non rất nhiệt tình trong công tác, sau đó anh được chuyển về đơn vị đặc công huyện, giữ chức vụ Trung đội phó và hy sinh. Trải qua nhiều năm, địch bình định ở vùng Bốn Mỹ, các xã Phú Ngãi, Phú Lễ, Phước Tuy, Tân Thủy, Bảo Thạnh… Tổ Biệt Động ngày càng lớn mạnh và phát triển thành Đội Biệt động. Đội đã có những trận đánh đồn giặc thật bất ngờ và giành thắng lợi nhanh, nhờ vào mưu trí và lòng can đảm của anh em cán bộ, chiến sĩ.
Một trong những trận công đồn giặc đầy ấn tượng là trận đánh đồn Gò Dinh (trước đây là ấp An Bình Đông 1, hiện thuộc khu phố 6, thị trấn Ba Tri) vào đêm 15-10-1974. Nhờ làm tốt công tác nội tuyến trong lòng địch, quân giải phóng (ta) biết được quy luật của địch, hễ mỗi lần ta pháo kích vào đồn, quân địch sẽ kéo lính từ phân chi khu An Đức sang để chi viện. Trước khi rút quân trở về, chúng sẽ tập hợp lính tại bờ Vực (nằm ngoài vòng rào đồn khoảng 60m) để điểm quân, sau đó mới rút lui. Bấy giờ, tại huyện Ba Tri, địch có Chi khu quận Ba Tri là trung tâm và có 17 phân chi khu thuộc 17 xã, thị trấn; trong đó, Thị trấn và xã An Đức cùng chung một phân chi khu. Đêm 14-10-1974, lực lượng biệt động của ta gài trái nổ (làm bằng pháo lép của địch, tái chế lại) ngay tại bờ vực. Đêm 15-10-1974, ta bắn pháo vào đồn Gò Dinh làm bọn lính trong đồn nhốn nháo. Lúc này, tên đồn trưởng Thêu đang ở nhà vợ nhỏ. Nghe tiếng nổ tại đồn Gò Dinh, lính ở phân chi khu An Đức liên lạc nhưng không được (vì đồn trưởng Thêu đã đem theo máy liên lạc HT1). Sau một hồi quát tháo, Thiếu úy Niên (Phân chi khu phó), chỉ huy lực lượng cùng Thượng sĩ Ngỗng và hơn 10 thuộc hạ thân tín kéo nhau đi tiếp viện cho đồn Gò Dinh. Tới nơi, bọn chúng thấy tình hình “ổn” nên trấn an lính ở đồn này. Sau đó, chúng tập hợp lực lượng ở bờ vực để điểm quân. Đúng lúc này, ta kích ngòi nổ, “bùm”, bọn địch không thể trở tay kịp. Trận này, ta tiêu diệt được tên Ngỗng cùng 2 trung sĩ, 2 hạ sĩ, một số tên là trưởng ấp (hoặc phó trưởng ấp) và phá hỏng nhiều súng, đạn của địch. Riêng tên Niên chết trên đường đi cấp cứu.
Đồn Giồng Cả của địch đóng tại xã An Đức thường được canh gác nghiêm ngặt, gây khó khăn cho hoạt động của quân giải phóng. Tại đồn, cứ mỗi giờ một là địch dùng máy liên lạc HT1 để thông tin cho nhau. Với quyết tâm đánh đồn, Đội Biệt động thị trấn Ba Tri bí mật cài người vào đồn này. Từ nguồn tin của cơ sở mật, ta nắm được quy luật hoạt động của chỉ huy và lính của đồn: cứ đến chiều là chúng vào đồn lãnh súng, đạn để đi tuần đêm. Trong ngày 20-1-1975, dưới lớp áo dân vệ, 3 người của ta lọt được vào đồn và làm chủ được tình hình. Từng giờ một, các quy ước trả lời của địch qua máy liên lạc ta đều nắm vững và thực hiện rất đúng nên bọn chúng chẳng mảy may nghi ngờ. Đến trưa, lực lượng biệt động của ta “lọt” vào đồn thêm 3 người nữa và bắt được một số tên trong đồn. Chiều cùng ngày, ba tên ác ôn gồm: trưởng ấp Be, phó trưởng ấp Thuận và mật báo Chiến dẫn lính đi ruồng ở Giồng Cốc (cùng xã An Đức) về. Sau khi kiểm tra khẩu súng Colt thấy đạn còn ít, tên Be sai lính đi lấy thêm đạn. Khi tên này vừa vào bên trong thì bị lực lượng biệt động của ta (giả dạng làm lính dân vệ) bắt giữ và lấy khóa, đút vào ổ rồi bẻ gãy chìa. Sau đó, một người lính (là cảm tình với cách mạng) leo lên bờ thành đồn vẫy tay, nói lớn cho tên Be biết đã bị gãy khóa nên không thể lấy đạn được. Tức giận, Be dẫn lính vào và lần lượt cả bọn đều bị bắt. Đến tối 20-1-1975, một số tên lính khác vào đồn cũng đều bị bắt. Trận này, quân ta tóm gọn hơn 20 tên địch (trong đó có 3 tên ác ôn), thu được một máy liên lạc HT1 cùng nhiều súng, đạn mà chẳng hề tốn một viên đạn nào.



