Bình định Đồng bằng sông Cửu Long
Trận đánh phá “bình định” (1969–1970)
tại đồng bằng sông Cửu Long
Sau năm 1968, khi chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” được Mỹ triển khai, đồng bằng sông Cửu Long – vùng lúa gạo lớn nhất miền Nam – trở thành địa bàn “bình định” trọng điểm của chính quyền Sài Gòn. Địch tăng cường xây dựng ấp chiến lược, đồn bảo an, dân vệ, mở các cuộc hành quân càn quét nhằm kiểm soát nông thôn, tách cách mạng khỏi nhân dân.
Trước tình hình đó, từ năm 1969 đến 1970, quân và dân đồng bằng sông Cửu Long đã kiên trì mở nhiều trận đánh phá bình định, diễn ra rộng khắp nhưng chủ yếu là đánh nhỏ, đánh gần, đánh liên tục, phù hợp với địa hình sông nước chằng chịt.
Ở các tỉnh Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, địch dựa vào hệ thống kênh rạch để bố trí đồn bốt và tổ chức tuần tra bằng tàu chiến. Ta đã tận dụng chính chính mạng lưới sông nước quen thuộc để đặt mìn, chông, bẫy nổ dưới nước, đánh vào các đoàn tàu tuần tiễu và xuồng đổ bộ. Nhiều tàu bị đánh chìm hoặc hư hỏng nặng, buộc địch phải hạn chế hoạt động, thu hẹp phạm vi kiểm soát.
Trên bộ, du kích xã, ấp ban ngày hòa vào dân, ban đêm tổ chức tập kích đồn nhỏ, đánh các chốt dân vệ, phá hàng rào, thu vũ khí. Có nơi, chỉ trong một đêm, nhiều đồn bốt bị đánh tê liệt, khiến bộ máy kìm kẹp của địch rơi vào tình trạng rối loạn.
Một hình thức đấu tranh đặc sắc ở đồng bằng sông Cửu Long là kết hợp quân sự với đấu tranh chính trị. Nhân dân nhiều vùng kiên quyết không hợp tác với chính quyền bình định, che giấu cán bộ, nuôi giấu du kích, giữ vững cơ sở cách mạng. Khi địch gom dân lập ấp, quần chúng đấu tranh đòi trở về ruộng vườn cũ, làm thất bại kế hoạch kiểm soát lâu dài của đối phương.
Ở những vùng căn cứ rừng tràm, rừng đước U Minh, Năm Căn, lực lượng vũ trang ta bám trụ vững chắc, tổ chức nhiều trận phục kích nhỏ, tiêu hao sinh lực địch khi chúng tiến sâu vào địa hình sình lầy, kênh rạch rậm rạp. Những trận đánh này tuy không lớn về quy mô, nhưng làm cho quân đội Sài Gòn luôn trong tình trạng bị động, lo sợ.
Các trận đánh phá “bình định” tại đồng bằng sông Cửu Long trong hai năm 1969–1970 đã giữ vững và mở rộng vùng giải phóng, bảo vệ được lực lượng cách mạng ngay trong vùng trọng điểm của địch. Quan trọng hơn, chúng chứng minh rằng dù địch có ưu thế hỏa lực và phương tiện cơ giới, thì trong điều kiện địa hình sông nước và khi nhân dân ủng hộ cách mạng, chương trình bình định không thể thành công.
Những trận đánh bền bỉ ấy đã góp phần quan trọng làm suy yếu chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, tạo thế và lực cho những thắng lợi lớn hơn của quân và dân ta trong các năm sau, tiến tới Hiệp định Paris năm 1973 và giải phóng hoàn toàn miền Nam năm 1975.



