Khác

Bình Ngô Đại Cáo - Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Thứ Hai Của Dân Tộc

Tác giả: Nguyễn Thị Hải Yến

Quảng Ngãi22/08/2026phường Bắc An Phụ (phường Bắc An Phụ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong kho tàng văn học trung đại Việt Nam, bên cạnh những áng thơ văn mang âm hưởng hào hùng của thời đại nhà Trần, thế kỷ XV đánh dấu một mốc son chói lọi bằng một kiệt tác văn chương chính luận mang tầm vóc lịch sử vĩ đại: Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Ra đời vào mùa xuân năm 1428 sau khi cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược giành thắng lợi hoàn toàn, tác phẩm không chỉ là khúc khải hoàn ca tổng kết mười năm nếm mật nằm gai của nghĩa quân Lam Sơn, mà còn được hậu thế tôn vinh là Bản Tuyên ngôn Độc lập thứ hai của nước Đại Việt.
Trước khi Bình Ngô đại cáo ra đời, dân tộc ta từng đón nhận một bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên là bài thơ "Nam quốc sơn hà" được vang lên ở sông Như Nguyệt, khẳng định chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng. Đến thế kỷ XV, khi giặc Minh hung bạo đô hộ, giày xéo đất nước, đẩy nhân dân vào cảnh lầm than tột cùng, Nguyễn Trãi đã phụng mệnh Lê Lợi viết nên bức cáo chung tổng kết toàn bộ cục diện.
Giá trị cốt lõi làm nên tư thế của một bản "tuyên ngôn độc lập" trước hết nằm ở đoạn mở đầu, nơi tác giả nêu cao tư tưởng nhân nghĩa gắn liền với chân lý độc lập chủ quyền:
"Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân đi trừ bạo trước lo trừ diệt".

Nhân nghĩa đối với Nguyễn Trãi không phải là thứ đạo đức chung chung, mà gắn liền với thực tiễn bảo vệ chủ quyền quốc gia, đem lại thái bình, hạnh phúc cho nhân dân. Tiếp đó, ông hiên ngang tuyên bố sự tồn tại độc lập, tự chủ của Đại Việt như một chân lý hiển nhiên, có từ ngàn đời:
"Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn nền văn hiến đã lâu,
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác..."

Việc đặt quốc hiệu "Đại Việt", song song sánh ngang hàng với các triều đại phương Bắc qua các triều đại Triệu, Đinh, Lý, Trần là đòn giáng mạnh mẽ vào âm mưu đồng hóa và tư tưởng bành trướng của kẻ thù.

Không dừng lại ở việc tuyên bố chủ quyền, Bình Ngô đại cáo còn là bản án đanh thép vạch trần tội ác ác độc trời không dung, đất không tha của giặc Minh. Bằng ngòi bút sắc bén và hiện thực trần trụi, Nguyễn Trãi đã tố cáo âm mưu tuyệt diệt giống nòi của kẻ thù: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn / Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”. Tội ác ấy không chỉ xâm phạm đến lãnh thổ mà còn giày xéo lên sinh mạng, phẩm giá của hàng triệu đồng bào ta.
Từ nỗi đau thương tột cùng ấy, tác giả khắc họa bức tranh hào hùng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn qua giọng văn sảng khoái, tự hào. Đó là hình ảnh một nghĩa quân từ buổi đầu gian khó ở miền núi rừng hoang vu, thiếu thốn trăm bề, nhưng với ý chí sắt đá, lòng căm thù giặc và sự đồng lòng của toàn dân (“Tướng sĩ một lòng phụ tử / Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”), họ đã từng bước lật ngược thế cờ. Hàng loạt chiến công vang dội ở Chi Lăng, Xương Giang, Mã Kỳ, Vương Thông được tái hiện như những bản trường ca dồn dập, đập tan uy thế của đế triều phương Bắc, buộc tướng giặc phải xin hàng và cuốn xéo về nước.
Khép lại áng thiên cổ hùng văn là lời tuyên bố hùng hồn về kỷ nguyên mới của đất nước – kỷ nguyên của hòa bình, độc lập và sự vươn mình phát triển:
"Càn khôn bĩ rồi lại thái,
Nhật nguyệt hối rồi lại minh.
Muôn thuở nền thái bình vững chắc,
Ngàn thu vết nhục sạch làu".

Trải qua gần sáu thế kỷ, Bình Ngô đại cáo vẫn sống mãi trong tâm hồn người Việt như một biểu tượng rực rỡ của lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc và tư tưởng nhân đạo sáng ngời. Xứng đáng là Bản Tuyên ngôn Độc lập thứ hai, tác phẩm mãi là niềm tự hào lớn lao, nhắc nhở các thế hệ mai sau về giá trị thiêng liêng của hai chữ "Độc lập - Tự do".

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn